Trang nhất » Tin Tức » Tâm tình khán giả

Ý thức độc lập - tự chủ dân tộc qua chiếc áo long bào trong vở cải lương: Thái Hậu Dương Vân Nga

Thứ hai - 17/03/2014 07:40
Ý thức độc lập - tự chủ dân tộc qua chiếc áo long bào trong vở cải lương: Thái Hậu Dương Vân Nga

Ý thức độc lập - tự chủ dân tộc qua chiếc áo long bào trong vở cải lương: Thái Hậu Dương Vân Nga

(CLVN.VN) - Bằng trái tim yêu mến lịch sử nước nhà, cảm phục trước tài đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông, tôi xin nói về ý nghĩa chiếc áo Long Bào trong vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga.

Kính thưa quý vị, đất nước ta tính cho đến thời Đinh Tiên Hoàng Đế lên ngôi năm 968 lập ra nhà nước Đại Cồ Việt thì Việt Nam ta đã trải qua hơn 1000 năm Bắc Thuộc, chịu ách cai trị của triều đình phong kiến Trung Quốc. Và về sau này, trong chuỗi lịch sử sau tháng 6 năm 1407 Hồ Quý Ly bị thất bại, quân đội nhà Minh, nhà Thanh liên tiếp đô hộ chúng ta. Phần thì lịch sử bị ngoại bang cố tình đốt phá, gây thành dị bản với mục đích người Việt Nam ta khinh thường và xem nhẹ Tổ tiên mình để gây xáo trộn lòng dân, mất niềm tin về nguồn cội. Phần thì nội chiến liên tục kéo dài, thương cho đồng bào trăm họ lầm than. Than ôi:
Ngoại bang biến dân đen thành kẻ không nguồn cội,
Tâm trí u mê khinh thị người khai quốc sơn hà!
Nội chiến vơ vét khiến dân đen thành kẻ đói,
Kiếp phù sinh, chịu dốt nát lạc lầm!

Trường hợp của bà Thái Hậu Dương Vân Nga cũng là chịu chung số phận ấy, tôi không dám lạm bàn với các vị là những nhà uyên bác lịch sử thông thạo cổ kim, tôi chỉ phân tích ở đây bằng cái tình của kẻ hậu bối sau hơn 1000 năm đối với người phụ nữ Việt Nam, một góa phụ đảm đang chấp chánh lo việc triều chính và giữ an xã tắc. Tôi không dám bàn chuyện chính bản hay dị bản, hay nói đúng hơn là khen chê bà Thái hậu Dương Vân Nga, ít ra hơn 1000 năm trước chính ông bà tổ tiên của chúng ta đã dựng tượng thờ bà, chỉ có những con người đức hạnh có vai trò rất lớn với nhân dân nên mới được nhân dân sùng bái. Đây là trường hợp rất hiếm thấy so với các vị hoàng hậu sau này, nhân dân ta dù có dốt nát hay nghèo đói đến mấy nhưng tấm lòng son sắc yêu nước thương nòi rất rõ rệt. Chính vì thế, hơn 1000 năm bị Trung Quốc đô hộ, hơn 100 năm chịu sự thống trị của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ nhưng tấm lòng son sắc đó không hề thay đổi. Nhà của họ có thể bị đốt phá chưa xem là mất mác lớn, nhưng đền đài miễu mạo bị đốt phá là họ đau xót khôn nguôi! Đó là thực tế! Chính vì thế, nhiều vở kịch hay hát chèo, cải lương ca ngợi về công đức của Thái hậu Dương Vân Nga vẫn được đại đa số nhân dân đón nhận và cảm phục.



Đoàn Thanh Minh Thanh Nga đã dựng vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga vào năm 1977, thủ vai chính là nghệ sỹ Thanh Nga. Vở diễn đã gây xôn xao dư luận rất lớn về một tài năng ca diễn độc đáo và đặc biệt đã mở tung trái tim yêu nước và tâm trí hiểu về lịch sử dân tộc! Điều đó khiến cho những kẻ cực đoan đã gây ra cái chết cho người nghệ sỹ tài hoa ấy. Nhưng có mất đi thì đây cũng chính là sự hy sinh cao quý của cô, ít ra cô cũng đã có một tiếng nói rất hào hùng về ý thức dân tộc qua vai diễn này và vai Trưng Trắc trong Tiếng Trống Mê Linh. Cô đã là một chiến sỹ! Một anh thư hào kiệt!

Khen thay:
Người chí nhân cần chi sách Khổng – Mạnh để trau mình,
Xem nhân nghĩa trong Bên Cầu Dệt Lụa!
Sách binh pháp hơn thua chi cho nặng trí,
Hãy tìm chước mưu trong Tiếng Trống Mê Linh.
Khẩu khí trượng phu khen chi cho phí,
Nghe người tiết phụ Thái hậu Dương Vân Nga.
Đâu chỉ nghe ngon ngọt ở lời ca,
Mà khắc cốt minh tâm một tình yêu nước!

Đinh Bộ Lĩnh là con trai của ông Đinh Công Trứ làm quan ở Hoan Châu. Cha mất sớm, ông theo mẹ về sinh sống nương nhờ nhà chú ruột ở vùng Hoa Lư. Thuở nhỏ chăn trâu, làm lụn giúp mẹ, vui cùng chúng bạn. Khi chơi đùa, ông thường cùng các bạn là mục tử chăn trâu bày thế trận chơi đánh nhau, dùng cỏ hoa lau làm cờ tập trận.

Khi Ngô Vương bị ám sát, đất nước loạn lạc, dân chúng lầm than khốn khổ. Từ năm 944, các lãnh chúa nhiều nơi đã lập cơ nghiệp riêng, ra sức cai trị cục bộ nhân dân. Đến năm 966, hình thành đủ 12 sứ quân (lãnh chúa) chiếm giữ các địa phương:

1/ Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn – Thanh Hóa)
2/ Ngô Nhật Khánh tự xưng là Ngô Lãm Công, giữ Đường Lâm (Sơn Tây – Hà Nội)
3/ Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Đông Giang (Thanh Oai- Hà Nội)
4/ Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
5/ Kiều Công Hãn tự xưng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu – Bạch Hạc (Việt Trì – Lâm Thao- Phú Thọ)
6/ Nguyễn Khoan tự xưng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Yên Lạc – Vĩnh Phúc)
7/ Nguyễn Siêu tự xưng Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì – Hà Nội)
8/ Nguyễn Hữu Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
9/ Kiều Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ)
10/ Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)
11/ Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu – Kỳ Bố (Thái Bình)
12/ Lã Đường tự xưng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang – Hưng Yên)

Đinh Bộ Lĩnh từ những kinh nghiệm trong các trò chơi “cờ lau tập trận” và nhờ sự dạy dỗ của chú, của mẹ ông có được sự tài trí hơn người, thu phục được nhân tâm. Bằng cách liên kết, dụ hàng, bằng cách đánh quân sự thích hợp mà ông đã thu phục được các lãnh chúa và thống nhất đất nước vào năm 968. Trường hợp này có thể xem Đinh Tiên Hoàng Đế giống như tướng quân Tokugawa Ieyasu của Nhật Bản cũng đã thống nhất các lãnh chúa và lập ra Mạc Phủ Edo (Tokyo) vào năm 1603.

Tại Hoa Lư (Ninh Bình) ngày nay, năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng Đế, đặt ra quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ, thiết kế lễ phục trong đó có Long Bào.

Xin mở rộng về hai chữ “Vương” và “Đế”, xét theo nghĩa bình thường thì đều là Vua. Nhưng chữ “Vương” là vua của nước chư hầu, lệ thuộc một đất nước khác. Còn chữ “Đế” là vua của một nước độc lập, tự chủ, không phụ thuộc. Ý thức độc lập, tự chủ ấy đã có từ xưa, bằng chứng là Lý Bí xưng đế (Lý Nam Đế) năm 544, Mai Thúc Loan xưng đế (Mai Hắc Đế) năm 713, và đến thời Đinh Tiên Hoàng Đế là rõ rệt nhất vào năm 968. Phan Huy Chú sở dĩ coi nước Việt từ thời Đinh Lê mở nước đối chọi với Trung Hoa, bởi tính từ thời điểm này trở đi, vị thế của một đất nước độc lập đã được khẳng định, tư tưởng bá chủ trời Nam đã hết sức sáng tỏ như chính lời chúc của Nam Việt Vương Đinh Liễn nhắn gửi trên cột kinh tràng: “ Chúc Đại Thắng Minh Hoàng Đế mãi làm bá chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu.”, “mãi trấn giữ trời Nam, thứ là khuông phò đế nghiệp”. Điều này đã gây ra sự phẫn nộ giận dữ của chính quyền Trung Hoa, cụ thể như Lý Văn Phượng – nhà sử học thời Minh (Trung Quốc) bình luận: “Nhật Tôn tự làm đế nước ấy (…) lấy quốc hiệu là Đại Việt. Từ ấy về sau, con cháu họ Lý cho tới họ Trần, Lê, Mạc đều giẫm theo vết cũ, tiếm xưng đế hiệu.”

Như một vì cứu tinh đã xong nhiệm vụ dẹp loạn thù trong giặc ngoài giúp cho nhân dân an lạc thái bình thì người đã trở về với thiêng liêng. Đinh Tiên Hoàng Đế băng hà năm 979 năm Kỷ Mão, làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi. Giá trị còn lại sau khi ông mất, đó là ý thức độc lập tự chủ trong lòng dân tộc. Chiếc áo Long Bào là trung tâm điểm của thời đại này mà Đoàn hát cải lương Thanh Minh Thanh Nga tái hiện lại. Đây là sự kiện lịch sử nói về tài trí chấp chánh của Thái hậu Dương Vân Nga (vợ vua Đinh Tiên Hoàng) sau khi vua băng hà. Không như bà Trưng, bà Triệu cưỡi voi ra trận chống giặc, mà tài trí của một người phụ nữ hiền thục, một người mẹ, một góa phụ trước sự dèm pha, áp lực của gia tộc và áp lực của triều đình Bắc Phương. Bà đã quyết định trao chính quyền cho Lê Hoàn (Thập đạo tướng quân) mà không trao cho người của gia tộc vì bà đã thấy được chỉ có thể trao chính quyền cho người đủ đức đủ tài để vừa gánh vác cho non sông mà chăm lo an cư lạc nghiệp cho trăm họ. Một người phụ nữ tang chồng còn đó, chịu nhiều áp lực, giữ mạng sống của mình còn không xong, nói chi là giữ nước non. Vậy mà bà đã làm được, và bà đã sáng suốt chọn được đúng người, nếu như sai lệch thì đất nước ta có thể rơi vào cảnh loạn lạc không chỉ 12 sứ quân mà còn vài chục sứ quân, thậm chí là sự đô hộ thảm khốc của Bắc Phương. Điều này, mỗi khi suy nghĩ và mỗi khi tham dự các lễ hội ở đền Hoa Lư, nghe người ta mang chuyện “gái 2 chồng” để chê bai, thóa mạ thậm tệ bà mà nước mắt tôi cứ rưng rưng. Tôi không biết nói sao, nhưng phải nói là tôi cảm ơn Đoàn Thanh Minh Thanh Nga đã dành cho bà Thái hậu Dương Vân Nga một hình ảnh rất đẹp, hình ảnh của cô Thanh Nga, cô Ngọc Giàu, cô Bạch Tuyết…đều đem tâm huyết của mình xây dựng lại một nhân vật lịch sử đầy đức hạnh và tài trí, cũng như một lời khuyên con cháu ngày sau đừng nên khinh thị người đã có công lớn với nhân dân đất nước, đó cũng chính là tình yêu nước!

Áo Long Bào đã được nghệ sỹ Thanh Nga tái hiện nhân vật Thái hậu Dương Vân Nga bằng tài ca diễn hào hùng, khẳng định khí khái: “Vạn Thắng Vương ơi, chàng đã cùng tướng sỹ ba quân phơi xương đỗ máu, để non nước này tự chủ vươn mình lên cao! Bao khí phách đã quyện chặc vào tấm Long Bào! Nhưng nay, đảo điên vận nước, thiếp tuy phận đàn bà cũng quyết noi gương người đi trước, nhìn chiếc áo tôi bổng thấy lại người xưa, như nhắn nhũ đây là hồn thiêng sông núi! Tiên Hoàng Đế ta từ thuở cờ lao dựng nước, đem sơn hà đem về một mối trong tay. Dù là nước nhỏ, đây là tấm áo đầu tiên dân ta dám may, người Đại Cồ Việt dám mặc để lên ngôi Hoàng Đế! Mỗi nếp áo còn sáng ngời khí thế, mỗi đường thêu còn rạng vẽ sơn hà. Bao năm trời còn vẹn nét hoa, áo Tiên Đế còn tươi màu gấm vóc. Ôi, ta bổng nhớ nước non này thuở trước, cờ Hoa Lư phấp phới khắp sơn hà. Tấm Long Bào này là niềm kiêu hãnh của dân ta! Một dân tộc dám tự xưng là Đại Cồ Việt, Quan Ngoại Giáp ơi, có phải ta đã may nó bằng xương máu đổ ra ở Bình Kiều, bằng gian truân ở những ngày nơi Cửa Bố, chính quan Ngoại Giáp đã một người một ngựa cùng Tiên quân xông pha giữa núi giáo rừng gươm. Tấm Long Bào này là vật báu của giang sơn. Quốc Công ơi, có phải ta đã may nó bằng sấm dậy đất Phong Châu, bằng lửa nung vùng Đồ Động? Chính Quốc Công đã thúc vang hồi trống trận cùng Tiên Quân xông vào đạn lạc tên bay, tôi tin rằng trăm họ sẽ tay nối vòng tay, quyết chống lại sức mạnh bạo tàn của giặc. Đây bức thơ của nước Đại Cồ Việt, ta phúc đáp với sứ thần: tấm Long Bào này, tấm áo Thiên tử đầu tiên này, ta quyết không bao giờ dâng nạp!”

Theo Đại Việt Sử Lược và Toàn Thư có ghi nhận việc năm 980, Thái hậu Dương Vân Nga đã đem áo Long Cổn của vua Đinh Tiên Hoàng khoác lên mình tướng quân Lê Hoàn, mời ông lên ngôi hoàng đế. Áo Long Cổn, còn gọi là Cổn phục, hoặc gọi là Cổn, là lễ phục của đế vương và vương công đại thần. Như Phạm Đình Hổ ghi nhận, một bộ Cổn Miện dành cho đế vương “Miện phải có 12 lưu, lưu có 12 ngọc, Cổn phục thêu 12 chương. Trong đó, chương là các hoa văn thêu trên Lễ phục, tượng trưng cho trời đất, vạn vật, gồm 12 loại: Nhật (mặt trời), Nguyệt (mặt trăng), Tinh Thìn (sao), Sơn (núi), Long (rồng), Hoa trùng (chim trĩ), Tông di (cốc ở tông miếu, có hình hổ và khỉ), Tảo (thủy tảo), Hỏa (lửa), phấn mễ (gạo), Phủ (rìu), Phất (chữ Á). Về sau này, lễ phục cho Hoàng Đế chuyển thành thêu Rồng 5 móng phủ thể, trên là mây chín tầng, dưới là đỉnh triều bạc để tượng trưng cho ngôi cửu ngũ chí tôn, tấm lòng và tài đức như trời cao, biển rộng. Đây gọi là Long Bào.

Vâng, nếu như Trống Đồng có những họa tiết xem như là trang sử đầu tiên của Việt Nam ta từ thời khởi thủy thì áo Long Cổn hay Long Bào đã được hoàng đế Đinh Tiên Hoàng cho thiết kế để nói lên niềm vinh dự độc lập tự chủ tự cường của dân tộc ta. Và thế hệ chúng ta, may mắn đã được đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga giúp cho chúng ta hiểu sâu hơn về điều đó.

Rõ là:
Áo Long Bào phủ kín cả giang sơn,
Đã đắp ấm cho toàn dân tộc.
Nuôi ý chí ngàn năm giữ áo,
Để cháu con muôn thuở tự hào.

Kính bút,
Hồ Nhựt Quang

Theo: ngocanh

Nguồn tin: clvn.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Nguyên Bình - 11/06/2014 12:22
Bài viết của tác giả Hồ Nhựt Quang hay quá, bài này giúp tôi và các bạn đọc hiểu rõ hơn về ý nghĩa của tấm long bào. Năm 1978, sau khi cô Thanh Nga mất, nhiều nữ nghệ sĩ đã hát lại vai Thái hậu Dương Vân Nga. Và lớp diễn quyết không dâng nộp long bào như bài viết có nhắc tới ở trên được xem là lớp diễn kinh điển cho những nữ nghệ sĩ tham gia trong vai Thái hậu. Bài viết đã làm sống lại không khí xem vở diễn và lớp diễn này của thời đó: vừa tự hào, vừa cảm phục. Cám ơn tác giả và nếu có thể, cho tôi xin địa chỉ email để trao đổi thêm về hào khí của cải lương lịch sử Việt Nam. Trân trọng.
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thảo Luận

16/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
26/05/2017
20/05/2017
05/05/2017
26/04/2017
18/04/2017