Trang nhất » Tin Tức » Nghệ thuật cải lương

Sưu khảo của Trịnh Thiên Tài: Tìm hiểu về bản nhạc lịch sử "Dạ Cổ Hoài Lang"

Thứ sáu - 22/05/2015 09:00
“Vua mốp” Trịnh Thiên Tài

“Vua mốp” Trịnh Thiên Tài

(CLVN.VN) - Vọng cổ là bản nhạc chủ lực của cải lương (phi vọng cổ bất thành cải lương). Nó khởi đầu từ bài Dạ cổ hoài lang của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Theo thời gian, Dạ cổ hoài lang phát triển thành bài vọng cổ nhịp 4, 8, 16 và hoàn chỉnh ở nhịp 32 như hiện nay. Để có được bài vọng cổ nhịp 32 như hiện tại, quá trình phát triển bài nhạc chủ lực của cải lương đã trải qua nhiều thử nghiệm, có sự đóng góp công sức của nhiều người. “Vua mốp” Trịnh Thiên Tài là con trai duy nhất của nhạc sĩ Trịnh Thiên Tư (cha đẻ của bài vọng cổ nhịp 4) tuy giờ đây là môt họa sĩ thiết kế sân khấu (và điện ảnh) nổi tiếng nhưng anh vẫn hướng về cội nguồn, bỏ nhiều công sức để sưu khảo về sự phát triển của bài vọng cổ.

Nhằm góp thêm tư liệu cho hậu thế, Báo Sân khấu TP . Xin giới thiệu đến bạn đọc những sưu khảo của họa sĩ Trịnh Thiên Tài về quá trình hình thành và sự phát triển bài “nhạc vua” của cải lương.

Do bài viết mang tính chất sưu khảo nên tác giả Trịnh Thiên Tài rất mong nhận được sự đóng góp,bổ sung từ những người am tường, các nhà nghiên cứu để tư liệu về sự phát triển của bản “nhạc vua” được đầy đủ, hoàn chỉnh.

Điệu “Dạ cổ hoài lang” chuyển thành bài “Vọng cổ” ngày nay của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, đã đọng lại và lắng sâu trong tâm khảm mọi người, thắp sáng lên nền văn hóa dân tộc chuyên nghiệp, niềm tự hào di sản vô giá mà cha ông để lại!

Cần hiểu rõ sâu sắc, tường tận thông suốt và diễn biến tuần tự từ Dạ cổ hoài lang sang Vọng cổ. Từ nhịp đôi sang nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16 .v.v…



Để thỏa đáng sự việc trên, là con cháu của hậu thế, tôi thiết nghĩ mình cũng phải có trách nhiệm đóng góp cùng mọi người yêu mến bộ môn này, cũng là trân trọng di sản vô giá mà cha Tôi quyết định viết bài sưu khảo nhằm đóng góp một ít công sức của mình trong việc lưu truyền nguồn cội Dạ cổ hoài lang cũng như bài Vọng cổ đến với độc giả trong và ngoài nước, đã và đang hậm mộ “Đờn ca tài tử” một di sản văn hóa nghệ thuật phi vật thể. Trích bài của soạn giả Trịnh Thiên Tư, cuốn “Ca nhạc cổ điển” (1962):

Để dẫn chứng về quá trình bản Vọng cổ từ Dạ cổ hoài lang, ông viết: Tôi tự thấy mình có bổn phận nói lên khía cạnh cơ cấu đúc kết và hoàn thành bản nhạc có tư thế độc đáo, trữ tình của nhạc sĩ CAO VĂN LẦU (Sáu Lầu). Xuyên qua sự thấy biết và hiểu rõ về tác giả bài Dạ cổ hoài lang… ông viết: TÀI KHÍ” tức “Hai Khị”. Tôi ăn ở thường trực ở lò cổ nhạc này, giữa phong trào ca ra bộ “Bùi Kiệm Kiều Nguyệt Nga” .v.v…

Cao Văn Lầu sinh năm 1892 tại xã Thuận Mỹ, tỉnh Long An. Con ông Cao Văn Giỏi (thọ 80 tuổi, mất năm 1938). Mẹ là bà Thạch Thị Tài (thọ 93 tuổi, mất năm 1959), vợ kèo cột của Sáu Lầu là bà Trần Thị Tấn.

Lúc 7 tuổi, cậu bé Sáu Lầu cùng người anh ruột là Cai Đệ theo song thân di cư đến Xà Phiên (Rạch Giá) đặng mưu sinh. Sau hai năm, gia đình ba mẹ ông di chuyển đến Bạc Liêu (ở đường đi biển Nhãn) dụng ý cho con lớn lên học nhạc với hậu tổ Hai Khị. Thuở ấy, Cai Đệ có khiếu thổi kèn Song Hỷ. Đồng thời cậu bé Sáu Lầu những giờ nghỉ học, cũng tập tểnh với cây đờn chỉ ở nhà.

Một hôm, nhạc sư Hai Khị đến viếng, song thân Cai Đệ giới thiệu đứa con thứ sáu của mình. Qua sự kết nạp học trò, Sáu Lầu bắt đầu rời trường để theo thầy học nhạc. Dù lứa tuổi 14 hãy còn thơ, Sáu Lầu có biệt tài cầm roi trống nhạc lễ được thầy huấn luyện dầy công hơn. Về môn nhạc cổ, nhạc tài từ, ông Lê Tài Khí có 3 lớp học trò: - Hạng tiên tiến là: Tư Lợi, Cai Đệ, Năm Bụ, Tư Phương.

- Hạng lành nghề: Hai Hứa, Ba Lất.
- Hạng vừa học vừa làm nghề: Sáu Lầu, Ba Chợt, .v.v… (vừa học đây không phải là tay mơ, mà ám chỉ là chưa sử dụng nhạc cụ cần yếu).Riêng Sáu Lầu, rất điêu luyện về roi trống, khá về đờn nhị, đang miệt mài đàn cầm và đàn tranh.

Năm 1927, Sáu Lầu được 26 tuổi, tuy thuở ấy nhạc sĩ giỏi roi trống song chưa sắc bén ngón đàn hơn Hai Húa, Ba Lất (lúc bấy giờ phong trào hát “ra bộ” sống động) vỏn vẹn có lớp “Bùi Kiệm Nguyệt Nga”. Tôi còn nhớ vùng Bạc Liêu nổi danh bộ 3 trình diễn lớp này là: Năm Bụ đóng vai Bùi ông, Hai Húa vai Bùi Kiệm và Ba Lất (giả gái) đóng vai Nguyệt Nga.

Đến năm 1923, tôi đi học, tôi gần gũi với các nhạc sinh đi trước trong lò nhạc này. Tôi nghe biết vụ biến cố gia đình của Sáu Lầu mà chính anh là nạn nhân của thế hệ Mẫu quyền. Số là năm 22 tuổi (1913), Sáu Lầu cưới vợ, đến năm 1917 chàng bị thân mẫu buộc thôi vợ vì lý do vô hậu kế tự. Trên một năm (1918) chồng vợ chia lìa. Chàng trai chung thủy chỉ biết than thở với gió mây. Quá đau khổ vì còn thương vợ, nhạc sĩ Sáu Lầu ra sau vườn dưới màu trời u ám, vừa ngắm cảnh hoàng hôn miền sơn dã với chan chứa giọng não nùng, ruột đau quặn thắt. Để trút bớt nỗi niềm riêng, Sáu Lầu xúc cảm qua giọng hút gió xé lòng, phổ thành bản nhạc du dương, xuất phát từ cõi lòng chung thủy.

Từ bản nhạc không lời, Sáu Lầu tuy vừa ý chỗ khởi tác bằng tiếng “hò” của bài “Lưu thủy trường”, song chưa nhất quyết hẳn vị trí “nốt” nhạc, cũng như chưa khẳng định số câu dứt khoát.
Về lời ca

Vốn nặng tình trăm năm với người vợ hiền tấm mẵn, tác giả gói ghém nỗi lòng trên lời ca diễn đạt tâm trạng đau khổ của một thiếu phụ lìa chồng. về tứ văn, phụ thán” của nhà sư Nguyệt Chiếu (trụ trì tại Phật xá Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu thuở ấy), mặc dù lời văn đã chịu ảnh hưởng ít nhiều trong bài ca Nam “Tô Huệ” (chức cẩm hồi văn).

Giữa lúc thai nghén bản ca nhạc, Sáu Lầu có nói riêng với con của thầy mình (Nhạc Khị) là nhạc sĩ Ba Chột:
- Biết rằng rất tiếc phải bỏ qua 2 câu ca “Từ chàng ra ải Bắc, biết làm sao nhắn trao lời vàng”. Đồng thời tác giả bỏ bớt 2 câu nhạc mang lời ca ấy và chính giọng nhạc câu kế đôn lên; làm như vậy bởi tác giả nhận thấy 2 câu ca này trùng đoạn đầu của một bài ca khác đã ra đời.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu trao bản nhạc cho danh ca Bảy Kiên nhuận sắc, khi nó còn mang cái tên “Hoài lang” và gồm 22 câu. Bảy Kiên thấy tựa bài chưa tròn nghĩa nên bổ túc thêm 2 từ “dạ cổ” thành bài “Dạ cổ hoài lang”.

Hơn nữa thấy 2 câu chót tương đối gần giống với câu 19 - 20 kế trên và trùng 2 câu 5 - 6 nên đề nghị cắt bớt câu 21 - 22 cho tròn 20 câu chẵn. Sáu Lầu cảm thấy mình ở vào thế kẹt, nếu mất 2 câu chót này thì bài ca không nhốt hết nghĩa. Sau đó danh ca Bảy Kiên giới thiệu bài “Dạ cổ hoài lang” với thầy tuồng Thống (tức Trần Ngọc Thơ). Thuở “Tăng Minh Kế” của ông bầu Ba Xú Bạc Liêu, ra đời trước “Tập Ích Ban”, bài ca được phổ biến rộng từ ấy.

Nhạc sĩ Ba Chột và Ba Lất đưa bài “Dạ cổ hoài lang” với lời ca trữ tình thích hợp với cốt truyện tuồng và đưa ra phổ biến trên sân khấu“Tập Ích Ban” tại Thốt Nốt.

Vừa khi bản Dạ cổ hoài lang chào đời, đa số khán giả hoan nghênh nồng nhiệt, bắt lấy cơ hội, soạn giả Mộng Trần (Lê Chân Tâm) góp công phổ biến nó trên nhiều vở tuồng cải lương. Trong sách “Tìm hiểu cổ nhạc Bạc Liêu” của Trần Phước Thuận viết:

Thật ra bản gốc Dạ cổ hoài lang là bản đã được công bố gần trăm năm trước tại Bạc Liêu, đây là bản 20 câu, nhịp đôi gồm cả nhạc lẫn lời, bản thảo do chính tác giả lưu giữ. Vì thiếu điều kiện bảo quản nên chỉ hơn 10 năm đã hư mục. Nhưng trong khoảng thời gian cuối đời, tác giả đã chép bản này lại để tặng bạn thân.

Như vậy, bản Dạ cổ hoài lang do chính tác giả chép lại có thể xem là bản gốc. Bài này không có dấu nhạc, chỉ có lời ca, cũng 20 câu nhịp đôi, chỉ có hai nhịp ngoại ở câu 4 và câu 12.



Còn tiếp

Theo: ngocanh

Nguồn tin: Trịnh Thiên Tài - Báo sân khấu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Nghia Truong - 22/05/2015 19:29
Soạn giả Mộng Trần trong bài viết này có phải là Mộng Vân ?
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thảo Luận

16/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
26/05/2017
20/05/2017
05/05/2017
26/04/2017
18/04/2017