Trang nhất » Tin Tức » Nghệ thuật cải lương

SỰ CHỌN LỌC CA TỪ TRONG CÂU VỌNG CỔ

Thứ hai - 05/12/2016 04:18
SỰ CHỌN LỌC CA TỪ TRONG CÂU VỌNG CỔ

SỰ CHỌN LỌC CA TỪ TRONG CÂU VỌNG CỔ

(CLVN.VN) - Đã từ bao giờ dòng sông chở nặng phù sa? Tự đời nào rồi con nước ôm trọn từng cánh đồng xanh mát? Và từ khi nào câu vọng cổ vang lên khắp từ làng quê ngõ xóm – khắp xứ Nam kỳ lục tỉnh xưa xuôi đời theo những ghe hát dọc ngang trăm miền, tứ xứ hồ hải, rồi đường hoàng hiện hữu giữa ngày nay từ nông thôn cho đến thành thị vang rộng khắp Bắc Trung Nam?
Âu cũng không phải là ngẫu nhiên mà cốt yếu ở ca từ? Có phải thế không?

Có lẽ đầu tiên xin mạng phép nghiêng mình cùng tiền nhân được bàn đến ca từ trong bài “Dạ cổ hoài lang” của cố soạn giả Cao Văn Lầu:

Từ là từ phu tướng

Bảo kiếm sắc phán lên đàng

Vào ra luống trông tin chàng

Năm canh mơ màng

Em luống trông tin chàng

Ôi gan vàng quặn đau í a

Lời ca là nỗi lòng – tất lòng liền với thanh âm, cung bậc nỉ non của tiếng đàn tỉ tê trong canh thâu – tất lòng ấy được dàn trải trên từng cung tơ phím nhạc rồi lại lúc dừng, lúc điểm song loan cho thêm xao xuyến, xót lòng, ray rức cái dạ con người mới thôi! Đó là một sự liền mạch của lòng dạ - ca từ - âm điệu ngũ cung, và, đó chính là sự thăng hoa của âm nhạc Việt Nam – tài tử - vọng cổ - cải lương!

Rồi cho đến câu hò mộc mạc, đậm chất miệt vườn mở đầu bài vọng cổ “Tình anh bán chiếu”:

“Hò ơi! Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu. Chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm em không gặp, hò ơi… tìm em không gặp tôi gối đầu mỗi đêm…”

Sau đó là vào vọng cổ và liên tiếp những câu vọng cổ sau cũng với ca từ bình dân mà làm say đắm không hề có cảm giác nhàm chán của người nghe đến lạ - phải chăng chất liệu để làm nên bài vọng cổ thu hút hàng triệu triệu trái tim lại nằm ở sự tự nhiên không trao chuốt, không hoa mỹ, cụ thể rất dễ hiểu, không ẩn ý, nội dung của “Tình anh bán chiếu” thì có lẽ ai ai cũng biết mà không cần bàn đến, thế nhưng điều đặc biệt nào đã làm cho bao thập k qua đi mà người đời vẫn còn mê đắm mà đặc biệt phải là giọng hát của NSND Út Trà Ôn thì mới đạt hiệu ứng tuyệt đỉnh? Phải chăng cố danh cầm Bảy Bá – cố soạn giả NSND Viễn Châu và NSND Út Trà Ôn được xem là những người cùng thời, chí thân với nhau nên họ hiểu nhau về cả ngôn từ, cách nói, lời ca, cách đặt câu chữ cho hợp vào ging hát chăng? Hay người ca thấu hiểu từng ý, từng lời, chi tiết từng mục đích, ý đồ…mà qua tìm hiểu từ tác giả cùng với sự nghiên cứu lời lẽ từ bản vọng cổ mà chuyển tải hết ý trọn tình đến mộ điệu xa gần, từ đó tiếng lòng người nghệ sĩ truyền mang tất dạ người viết đến tận đáy tâm hồn người cảm thụ - để lại nỗi niềm sâu lắng cộng hưởng rồi thăng hoa thành âm điệu rất riêng mà lạ, đậm đà, đặc biệt của bản vọng cổ - kiêu sa mà thuần hậu chính tự ngôn từ bình dân xứ sở, làng quê Việt Nam.

Thế mới hay sự tinh tế trong cách dùng từ của tác giả giá trị đến dường nào?

Đêm Sài Gòn với những ánh đèn rực rỡ chói lóa, tấp nập, hay Sài Gòn ngày nắng hay Sài Gòn ngày mưa, đâu đó giữa lòng thành phố, từ những ngôi chợ truyền thống mang đậm dáng dấp Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh hiện đại, nghĩa tình, từ phố lớn nhà cao, trong những con hẻm nhỏ xa xa vẫn vang lên: “Trời ơi, bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu hà…”, hay như “ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kênh ngã bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra … chào” rất thân thương quen thuộc và gần gũi qua tiếng hát huyền thoại của các danh ca Út Trà Ôn, Minh Cảnh… Sài Gòn đó, Thành phố Hồ Chí Minh nay, ôi, gần làm sao, quen làm sao, nhớ làm sao hình ảnh những gánh hát xưa vang danh, nào: Thủ Đô, Kim Chưởng, Minh Tơ, Kim Chung, Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu… nói đến đây xin dành một giọt nước mắt nhớ tiền nhân!

Chỉ qua lời ca thôi từ bài vọng cổ ngắn mà bao hình ảnh, kỳ tích, thành quả người xưa như sống dậy theo nhịp thời gian xuyên không gian – ngày ấy chưa thể nào phai trên những nẻo đường phù sa hình ảnh những gánh hát đại bang ghé bến gióng rống chầu lên màng biểu diễn – từ đây có biết bao ngôi sao, tên tuổi rực sáng, đứng vững theo thời gian và có lẽ cũng ngoài nửa thế kỷ dần trôi. Thiết nghĩ sự chọn lọc ca từ trong câu vọng cổ hết sức quan trọng đối với một tác giả, vì sao? Sự chọn lọc ấy phải chăng xuất phát từ tình yêu đậm đà với âm điệu ngũ cung cùng với cái tâm của kiếp con tằm là tận tụy, tìm tòi, chắt lọc từng câu, từng chữ dệt nên giai điệu đặc trưng mà trên thế giới chỉ có Việt Nam mới có? Và, khi lời ca đã có thì còn lại âu cũng không nằm ngoài chân tình từ giọng hát biết chịu khó nghiên cứu ca từ, hoàn cảnh, nội dung thật cặn kẽ, hiểu rõ ngọn nguồn ấy người nghệ sĩ sẽ bật sáng như Hoàng Đế dĩa nhữa Tấn Tài với bài “Bông ô môi”, danh ca Minh Cảnh với bài “Tô Võ chăn dê”, hay bài “Võ Đông Sơ”, NSƯT Minh Vương với “Lòng dạ đàn bà”, NSƯT Thanh Sang với “Nhớ mẹ”… và hàng loạt các v tuồng…

Điển hình có thể kể như các sáng tác của cố soạn giả NSND Viễn Châu – người sáng tạo ra bài tân cổ giao duyên quen thuộc, thân thương gần gũi với người dân nam bộ, trải hơn nửa thế kỷ nay qua bài ca của ông đã có biết bao nghệ sĩ thành danh rực rỡ” NSND Út Trà Ôn với “Tình anh bán chiếu”, NSƯTÚt Bạch Lan với “Hoa lan trắng”, NSƯT Ngọc Giàu có “Áo tình đắp mộ người yêu”, NS Thành Được “Tiếng trống tàn canh”, NSND Lệ Thủy với “Quan âm Thị Kính”, “Tu là cội phúc” (NS Minh Cảnh), “Lắng tiếng chuông ngân” (NSƯT Thanh Nga), “Nửa đêm sầu hận” (NSƯT Mỹ Châu), “Hạng Võ biệt Ngu Cơ” (NS Tấn Tài), “Mồ chồng ngọn cỏ còn xanh” (NSƯT Minh Phụng),… Sau này là các nghệ sĩ trẻ như Vũ Linh, Tài Linh, Kim Tử Long,Thoại Mỹ, Vũ Luân… Và một nhân vật Hàn Mạc Tử trong vở tuồng cùng tên của ông đã đưa hình ảnh chàng kép mới, trẻ đẹp, nam tính của sân khấu cải lương – Rồng Nhỏ Kim Tiểu Long đi vào lòng người đầy thuyết phục: da diết, ai oán, nức n, trăn trở sầu dưới ánh đèn đêm xót đau, bi thương cho một thân phận tài hoa bạc mệnh… Đây là trường hợp có thể gọi là bỏ qua sự đo ni đóng giày cho chính người nghệ sĩ mà là minh chứng cho điều đã nói ở trên – sự chân tình từ giọng hát biết chịu khó nghiên cứu ca từ, hoàn cảnh, nội dung thật cặn kẽ, hiểu rõ ngọn nguồn.

Nói về sự mộc mạc trong lời ca còn có các bài vọng cổ của soạn giả Quy Sắc như bài “Cô bán đèn hoa giấy” qua giọng hát NSND Lệ Thủy, “Bánh bông lan”, “Hương cau quê ngoại”, “Phận làm dâu”… sự mộc mạc chan chứa tình quê rất gần giũ, dễ nhớ từ nội dung bài vọng cổ “Chợ Mới”, đậm đà tình người nghĩa đất, tình người, tình quê hương đất nước trong “bên sông Vàm Cỏ” của soạn giả Trọng Nguyễn… 

Bài tân cổ giao duyên là kết tinh của tính sáng tạo không ngừng nhằm tìm kiếm cái mới cho nền cổ nhạc nước nhà, là sự thăng hoa của cảm xúc người nhạc sĩ với những lời ca được lựa chọn trao chuốt thật gần gũi, dễ nghe, dễ đi vào lòng người, và một khi đã nghe rồi thì không bao giờ quên được, bất kể là ai, tầng lớp nào dù ở đâu phố lớn, nhà cao, nông thôn dân dã, khi nào đi nữa đếu có thể nhớ và hát được thì đó lại là thành công không chỉ của người tác giả mà còn ở sự kết hợp liền mạch cảm xúc của người nghệ sĩ.

Với người soạn giả, trong mỗi bài tân cổ giao duyên ca từ là sực chắt lc – điều ấy cũng không nằm ngoại những gì mộc mạc nhất, gần gũi nhất cho dù lời ca có du dương, u buồn, tâm sự hay có khi là bài vọng cổ hài… từng lời, từng chữ là từng cung bậc nhảy múa dịu dàng kiêu sa và càng quyến rũ hơn khi “sánh duyên” cùng tiếng đàn vọng cổ, nhịp song loan, khi ấy sự hấp dẫn đó càng cuốn hút vô cùng! Tiếng tơ mang đậm hồn quê đã thăng hoa và bao tháng, bao năm không bao giờ cạn niềm đam mê của người nghệ sĩ và mãi mãi đọng lại nơi người nghe!

Người biết có thương, có trân quí từng nhịp, từng cung bậc, tiếng đàn quê quê nặng lòng âm nhạc ngũ cung và yêu tha thiết tài sản đậm hồn quê là bài tân cổ giao duyên thì lời ca mới chan chứa nỗi niềm mà rất đậm sâu tâm tình con người Việt… bên cạnh đó, người chuyển tải là nghệ sĩ có tâm huyết, yêu sâu đậm nền cổ nhạc mới đọng lại trong trái tim người nghe một nỗi nhớ, một tiếng nhói lòng mỗi khi thưởng thức bài vọng cổ quê hương, dẫu rằng người cha đẻ của bản vọng cổ đã ra đi nhưng từng làng quê góc nhỏ nông thôn hay phố phường thành thị vẫn còn đó kỷ niệm bình dị, yên ả,m tất cả giờ đây đã đi theo ông, đi vào thế giới của tiếng đàn tranh ngàn năm hồn quê vương vấn, vấn vương thăng hoa, thăng hoa tới cõi thiên tiên!

Nếu như dòng sông dâng con nước ôm trọn từng cánh đồng thơm mát thì bản vọng cổ dư vị ngọt ngào, hiền hòa nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam – là tiếng mẹ ru hồng những ngày còn thơ, bài ca còn dạy con người đến những cái đẹp, cái hay trong cuộc sống! Thiết nghĩ lời ca từ bài vọng cổ phải là một sự liền mạch của lòng dạ - ca từ - âm điệu ngũ cung!

Theo: Bạch Cúc

Nguồn tin: Vương Thoại Hồng, báo sân khấu

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn