Trang nhất » Tin Tức » Nghệ thuật cải lương

Rạp Hưng Đạo mới Gợi nhớ Cải Lương xưa

Thứ hai - 18/05/2015 13:27
Rạp Hưng Đạo mới Gợi nhớ Cải Lương xưa

Rạp Hưng Đạo mới Gợi nhớ Cải Lương xưa

(CLVN.VN) - Trung Tâm Nghệ Thuật Cải Lương Trần Hữu Trang, tức rạp hát Hưng Đạo cũ xây cất lại và đổi tên, được khánh thành hôm 18 tháng 4 năm 2015, để kỷ niệm 40 năm chiến thắng của miền Bắc ngày 30 tháng 4 năm 1975 với vở tuồng Chiến Binh của tác giả Chu Lai, chuyển thể cải lương Hoàng Song Việt, đạo diễn Trần Ngọc Giàu.

Đạo diễn Trần Ngọc Giàu, Giám đốc Nhà hát Trần Hữu Trang kiêm Giám đốc Trung Tâm Nghệ thuật Cải Lương Trần Hữu Trang, đã than dài khi chuẩn bị khai trương rạp hát mới nầy: “Chúng tôi phải đối đầu với muôn ngàn khó khăn khi nhận nhiệm vụ quản lý rạp hát mới này. Rạp mới chỉ có 600 ghế dành cho khán giả ở tầng dưới và tầng trên lầu, ít hơn rạp Hưng Đạo cũ những 600 ghế. Để đủ chi phí khi dàn dựng một vở tuồng mới, chúng tôi phải tăng giá vé cao thì mới cân bằng được thu, chi. Khán giả bình dân khó có tiền mua vé xem hát.
Ngoài ra còn những khó khăn kỹ thuật không lường trước được. Để điều khiển hệ thống âm thanh, ánh sáng và các phương tiện kỹ thuật hiện đại trang bị cho sân khấu mới, chúng tôi không có chuyên viên biết sử dụng các máy móc hiện đại đó. Chúng tôi phải cho người đi học và chờ một thời gian vài năm sau mới sử dụng được.”

Rạp Hưng Đạo cũ phá đi, xây lại rạp mới hiện đại hơn, ít nhất phải mất hơn bốn năm mới hoàn thành, vậy mà ông Giám đốc Nhà hát Trần Hữu Trang – trước đây đã là Giám đốc rạp Hưng Đạo, nghĩa là khi rạp mới hoàn thành thì cũng chính ông là Giám đốc cái rạp hát mới đó – sao lại không biết rạp mới đó có trang bị hệ thống âm thanh và ánh sáng theo kỹ thuật số để cử chuyên viên đi học sử dụng những trang bị kỹ thuật hiện đại đó?

Nhớ lại trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, Rạp Hưng Đạo là rạp hát thường trực của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga (1962 -1968), nhưng mỗi khi đoàn đi lưu diễn thì bà bầu Thơ lại cho các đoàn hát đại ban khác mướn để khỏi phải bỏ trống rạp. Và các đoàn đã từng hát ở Rạp Hưng Đạo gồm có: Hoa Sen (của bầu Bảy Cao), Thống Nhứt (của Út Trà Ôn – Hoàng Giang), Kim Chưởng (bầu Kim Chưởng), Út Bạch Lan – Thành Được, Hương Mùa Thu (bầu Thu An), Dạ Lý Hương (bầu Xuân), Thủ Đô (bầu Ba Bản), Thủ Đô – Tấn Tài, Hương Hoa (Bầu Sinh), Việt Kịch Năm Châu, Phước Chung, Thúy Nga – Phước Trọng, Hoài Dung – Hoài Mỹ (bầu Nguyễn Huỳnh), Sao Ngàn Phương (bầu Hoài Nhân), Trăng Mùa Thu…

Từ năm 1962, các đoàn hát đã hát hàng mấy trăm tuồng cải lương trên sân khấu Rạp Hưng Đạo và đã thực hiện nhiều kỹ thuật sân khấu tinh kỳ với các phương tiện kỹ thuật thông dụng của thời đó.

Trước hết phải kể đến đoàn Hoa Sen của bầu Bảy Cao. Ông đã đưa phim ảnh phối hợp với sân khấu quay để mở rộng không gian sân khấu, khiến cho người xem có cảm giác vở tuồng được diễn ra trong một không gian rộng lớn, liên tục chuyển cảnh, làm như chính họ đang tham gia trực tiếp vào chuyện tuồng.
Tuồng Nợ Núi Sông, tuồng chiến tranh Pháp – Đức, đoàn Hoa Sen đã cho chiếu lên phông trắng hàng mấy trăm phi cơ đồng minh thả lính nhảy dù xuống vùng Normandie nước Pháp; ngoài ra, chuyên viên kỹ thuật của đoàn còn làm những chiếc phi cơ nho nhỏ cho bay sát phông, ngang qua sân khấu và thả những chiếc dù tí hon có hình những lính đồng minh, như cảnh thật được nhìn thấy từ xa, khiến cho khán giả cảm thấy như đang chứng kiến chuyện chiến tranh đang xảy ra trước mắt mình.

Về âm thanh, chuyên viên kỹ thuật bố trí rất nhiều loa phóng thanh ở mặt tiền sân khấu và dài theo khán phòng, ở cả tầng lầu trên, họ câu dây loa cách nào mà có thể làm cho khán giả có cảm giác như nghe phi cơ từ xa bay lại rồi vút ngang qua đầu họ, tiếng phi cơ quầng trên trời và chúi nhanh xuống như chúi xuống bỏ bom, bắn phá. Phối hợp giữa cảnh trí, âm thanh và diễn xuất, đoàn Hoa Sen đã tái dựng trận đánh có phi cơ bắn phá, bỏ bom, nhảy dù như cảnh thật ở ngoài đời.

Về sân khấu quay, đoàn Hoa Sen đóng một sân khấu tròn bằng cây, đường kính 8 thước, để trên một mâm sắt tròn, có cốt sắt ở giữa tròng vô cái sân khấu tròn bằng cây. Ngoài rìa sân khấu tròn bằng cây đó có gắn nhiều tay nắm bằng sắt để cho các nhơn viên dàn cảnh nắm vào mà đẩy cho sân khấu cây di động.
Sân khấu quay ở các nước tiên tiến được điều khiển bằng máy. Sân khấu quay của đoàn Hoa Sen được điều khiển bằng sức của 6 nhơn viên dàn cảnh, họ nắm vào tay nắm ngoài rìa sân khấu quay để đồng loạt đẩy cho sân khấu quay.

Với lối thủ công này, đoàn Hoa Sen đã góp phần canh tân cách trang trí và âm thanh của sân khấu cải lương. Nếu được trang bị với những dàn âm thanh kỹ thuật số, những bệ nâng bằng máy móc như đã trang bị cho Trung Tâm Nghệ Thuật Cải Lương Trần Hữu Trang (rạp Hưng Đạo mới xây) thì đoàn Hoa Sen còn có nhiều cống hiến hay hơn nữa cho nghệ thuật cải lương.

Đoàn Việt Kịch Năm Châu hát tuồng Tây Thi-Gái nước Việt. Lúc mở màn, Tây Thi (Kim Lan) đứng sau phông trắng, đèn màu rọi ngược in bóng nàng Tây Thi múa, nhiều đám mây bay ngang qua, làm cho khán giả liên tưởng Tây Thi đang múa trên Cô Tô Tài cao ngang tầm mây bay.

Hết cảnh Tây Thi múa, màn hé lên, khán giả thấy những gót hài son của vũ nữ, từ trên trần cao, sát nóc rạp, các vũ nữ từng bước theo nhịp đàn, lời ca bước dần xuống sàn sân khấu. Chiều cao mà các vũ nữ đứng múa cao hơn sân khấu trên bốn thước, tạo cảm giác Cô Tô Đài của Ngô Phù Sai cao đến tận mây xanh. Đây là một cách diễn đạt, mở rộng không gian sân khấu theo chiều cao, sáng kiến của đạo diễn Nguyễn Thành Châu, tức nghệ sĩ Năm Châu.

Đoàn Hương Mùa Thu của Thu An thì đóng thêm mặt tiền sân khấu ló ra hai thước, làm cho bề ngang mặt tiền sân khấu rộng thành 14 thước, áp dụng kỹ thuật sân khấu đại vĩ tuyến như phim ảnh chiếu panorama…

Ngày xưa, đoàn hát do tư nhơn làm chủ, lời ăn lỗ chịu, nên người chủ và các chuyên viên cộng tác đều phải moi óc, góp sáng kiến canh tân kỹ thuật, dựng tuồng ngày càng hay hơn để thu hút khán giả.
Sau năm 1975, bầu gánh hát, chủ rạp hát là cán bộ của Đảng, tuồng hát sáng tác theo định hướng chính trị, khán giả không thích xem. Nếu hát lỗ lãi thì đã có Đảng bù lỗ bằng tiền thuế của dân, tiền bán biển, bán đảo, tiền bán hay cho mướn rừng ở biên giới. Do vậy, chủ đoàn hát, chủ rạp hát đâu cần có sáng kiến, suy nghĩ tìm tòi chi cho mệt, cứ tà tà sống khỏe thôi.

Về trang trí sân khấu, các cán bộ văn nghệ học theo sân khấu của Trung Cộng, dùng danh từ lòe người như kiểu “Trang trí Nhứt Điểm Xuyên Tâm” …nghe như chuyện kiếm hiệp Nhứt Dương Chỉ của Kim Dung!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Họa sĩ Nhân dân Lương Đống từ Bắc vô trang trí cho tuồng Tiếng Trống Mê Linh dựng trên sân khấu đoàn hát tập thể Thanh Nga, ông bác bỏ các maquette trang trí do họa sĩ Loka và Phan Phan phác thảo cho tuồng, và nói: “Trang trí sân khấu bây giờ phải “tân kỳ”, phải “cách mệnh” như Trung Hoa chớ không theo cách “dàn cảnh tả thực” với những chi tiết rườm rà. Tôi áp dụng lối Trang trí Nhứt Điểm Xuyên Tâm cho toàn bộ vở tuồng ‘Tiếng Trống Mê Linh’.”
Ông Lương Đống giải thích trang trí Nhứt Điểm Xuyên Tâm như sau: Ông cho đóng một cái bục cao một thước, mặt phía trên bục bề ngang một thước hai, bề dài xuyên suốt từ cánh gà bên phải qua đến cánh gà bên trái, bục này để sát phông trắng, diễn viên có thể đi, đứng, đánh võ trên cái bục đó. Giữa sân khấu, phía trước bục gỗ, có một bục khác có những nấc thang để diễn viên bước xuống sàn sân khấu.
Tất cả cảnh trí để diễn đạt bối cảnh diễn xuất đều để dọc theo cái bục dài này, đó là “nhứt điểm xuyên tâm” chạy từ cánh gà trái qua cánh gà bên phải.

Cảnh 1: Lễ giỗ Tổ Hùng Vương: dựng hai panneaux vẽ hình trụ cửa vô đền Hùng, đặt hai trụ đó dựa vào bục cây sát phông, tượng trưng cho cửa vô đền Hùng. Rọi hình ngọn núi vô phông trắng. Diễn viên đứng trên bục, bước qua bục rồi đi trên cái bục cây đó qua phải hay trái là vô đền Hùng.

Cảnh 2: Khi Hoàng Giang (vai Tào Uyên), Hùng Minh (vai Mã Tắc), Văn Ngà (vai Tô Định) đến gây hấn với Trưng Trắc (Thanh Nga) Trưng Nhị (Hà Mỹ Xuân) thì cũng diễn với cảnh trí kể trên, tượng trưng cho việc xảy ra tại trước cửa đền Hùng. Cờ của quân Nam treo trên một cột tượng trưng cho cửa đền Hùng.
Cảnh 3: Thi Sách bị thiêu sống: một panneau nhỏ vẽ đá ở vách thành, dựng che phân nửa cái bục cây, trên vách thành treo một lá cờ tượng trưng cho cờ của Tô Định, Thi Sách (Thanh Sang) đứng sau vách thành, nửa người ló cao lên, tượng trưng bị treo thiêu sống trên thành.

Trưng Trắc (Thanh Nga) đứng trên sàn sân khấu, nhìn vô Thi Sách trong thành để diễn, tượng trưng cho Trưng Trắc đang đứng trước cửa thành của Tô Định, đối đáp với chồng là Thi Sách.
Lúc tế chồng, khi xuất quân và lúc Tô Định thua bỏ chạy đều diễn trên cái bục cây và trên sàn sân khấu.

“Nhứt Điểm Xuyên Tâm” là nói cho có vẻ hoa mỹ chứ xét cho cùng trang trí Nhứt Điểm Xuyên Tâm là lối trang trí “ước lệ” của Hát Bội ngày xưa. Diễn viên đứng trên cái rương để sát phông trắng tượng trưng cho đứng trên mặt thành, hoặc đang leo núi… Đi vòng vòng sân khấu tượng trưng cho việc lên núi xuống đèo. Ngồi uống rượu trên ghế, bên cái bàn nhỏ có thể là đang ngồi yến ẩm trong cung đình, hoặc đang uống rượu bên quán ở vệ đường…
Hát Tiều, hát Quảng cũng trang trí kiểu đó, tuy có màu sắc hoa hòe hơn nhưng cũng là trang trí theo phong cách “ước lệ”, các ông dựa vào “made in China” để dọa người thôi.




Trang trí cho tuồng Chiến Binh, khai trương Trung Tâm Nghệ Thuật Cải Lương Trần Hữu Trang, diễn tả cánh rừng quân Bắc Việt đi xuyên đường mòn HCM, là chỉ để vài ba cái panneaux nhỏ, vẽ hình thân cây, một ít lá, để đây đó trên sân khấu tượng trưng cho cánh rừng bị phi cơ B52 liệng bom rải thảm. Đó cũng chỉ là trang trí “ước lệ” chớ có hiện đại, “hoành tráng” gì đâu mà các ông chủ nhà hát kêu om lên như báo NLĐ đăng.

Chắc các ông định làm một vở tuồng “hoành tráng” kiểu tuồng Kim Vân Kiều, Chiếc Áo Thiên Nga hay Mai Hắc Đế để tiêu tiền năm mười tỉ bạc kiếm vài trăm triệu bỏ túi, nhưng sân khấu nhỏ quá không thể thực hiện được nên các ông kêu than vậy thôi.

Có rạp hát mới, được cho là hiện đại “hoành tráng”, nhưng nghệ sĩ cải lương trong nước lại than dài. Người ta giết chết cải lương bằng nhiều thủ thuật khác nhau.

Nói cứu cải lương, nói vậy mà không phải vậy, còn tệ hơn như vậy nữa! Than ôi…

Nguyễn Phương, 2015

Theo: ngocanh

Nguồn tin: Thời báo

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Trần Quang Dinh - 18/05/2015 18:14
Sau 75-Àn Quang nhất là thời huy hoàng- cùng với rạp Thủ Đô ( Chợ Lớn- Q5 ), Đoàn nào về đây cũng đa số CHÁY VÉ ! Dân chợ đên sống KHỎE RE ! Ít nhất, thứ 7, chủ nhật 2 xuất hay từ thứ Năm là 2 xuất . Hoặc Khai trương tuồng mới khó lòng không diễn ngày 2 xuất ! Tết Nguyên Đán - có khi ngày 3 xuất . Sức mạnh của rạp này là vậy đó !
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thảo Luận

16/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
26/05/2017
20/05/2017
05/05/2017
26/04/2017
18/04/2017