Trang nhất » Tin Tức » Nghệ thuật cải lương

Cải lương xưa: “Dị nhân” đại chiến “quái nhân”

Thứ sáu - 03/10/2008 21:45
Cố NS 5 Cần Thơ. Hình: ngocanh

Cố NS 5 Cần Thơ. Hình: ngocanh

(CLVN.VN) - Trở lại bộ đa ''Tình mẫu tử” của soạn giả Viễn Châu, Ba Vân với lớp phụng hoàng đầy tâm trạng (có phải đây là bản Phụng hoàng đầu tiên xuất hiện trên sân khấu?), cô Ba Kim Anh với Ngựa ô nam (ca với Ba Vân), Chi hoa trường hận và nhiều câu vọng cổ não nùng bi thiết được soạn giả Viễn Châu đo ni đóng giày; đôi giày đã thành đôi hia bảy dặm đưa nữ ''dị nhân'' đến cảnh giới tối ưu; và tôn vinh thể điệu vọng cổ tăng tốc, bức phá ở vị thế ''độc cô cầu bại'', ngự tọa ngôi vương bền vững trong ''nhạc lâm'' Nam bộ . Vinh quang nầy, không thể không nhớ đến nhạc giới đã dày công hạn mã, điểm nhãn khai quan nhịp 32 cho vọng cổ.
'' Mẹ biết dù sao con cũng có chút lòng thương mẹ; nhưng tại vợ con hỗn hào quá quắt, con cũng đành nhắm mắt bỏ qua. Tưởng nhờ con an dưỡng thân già, khi ươn yếu được bát cơm manh áo... Lắm khi mẹ nhai cơm mà nước mắt mẹ cứ mãi tuôn... tràn'' (vô hò câu vọng cổ 1 sau 9 câu nói lối).

Cô con dâu cả hỗn láo lớn tiếng xua đuổi mẹ chồng. Người mẹ lặng thầm bước ra cận tiền trường; bức màn nhung sân khấu khép lại sau lưng. Mấy câu nói lối đậm đầy độ ẩm đã khuấy động khán phòng xao xuyến rưng rưng; để rồi nguồn mạch cảm trào tuôn chẳng đừng được, song hành cùng tràng pháo tay khi cô Ba vô hò. Mấy câu vọng cổ độc diễn mang tầm vóc tuyệt kỹ đã tác động đến tầng sâu thẳm với sức công phá mãnh liệt những tảng băng ngầm vô cảm của những ai kia, khiến họ phải tự soi rọi quá trình để kịp cứu vãn tiến trình sống thời hiện tại và thì tương lai. Cần nói thêm, vở Tình mẫu tử mới dựng gần đây, vai mẹ của Ngọc Giàu bị cắt bớt mấy câu vọng cổ do lệ thuộc về thời lượng. Còn bản dựng đầu tiên hơn 50 năm trước, cô Kim Anh thỏa sức tung hoành mấy lượt hò xề, dâng hiến người xem trọn vẹn oai lực bản nhạc vua.

Sau khi đánh bại bản Hành vân - nhạc đinh của SKCL buổi hồng hoang - vọng cổ tức vị xưng vương, đưa vương quốc cải lương vào thời hoàng kim rực rỡ, đẩy hát bội đến buổi chợ chiều đìu hiu theo cung cách bất chiến tự nhiên thành.

Bạc Liêu là kinh đô của vọng cổ Dân xứ Bạc rất sành điệu nhạc này, đến nỗi gần như ai cũng biết ca vọng cổ. Các đoàn hát khi đến Bạc Liêu đều rất âu lo Đào kép nào ca kiểu cọ, lập dị, đi ngoài nhạc căn hay ca vọng cổ rớt nhịp thì chắc chắn bị bà Ca Đọi (đói) dòm ngó. Xứ Bạc Liêu lúc ấy có nhạc sĩ Mười K lừng lẫy tiếng tăm. Ngón đàn của bác tươi mượt đến mê ly; giai nhân chỉ thoảng nghe đã hồn xiêu phách lạc, còn bậc tài tử mới lắng phần thính giác, tiếp cận mấy cung âm bổng tình xuân phơi phới, cảm hứng trào dâng, thôi thúc bước chân bản sắc mon men nhập cuộc. Sự hưng phấn chẳng tồn tại bao lâu, nhường chỗ cho tơ vò rối rắm, chương pháp rối loạn, nhịp trường canh bị lỗi, song lang bức tử ca từ: chưa trọn nửa lớp xuân, lớp bắc đã hóa ra lớp ai, lớp oán đậm chất khôi hài; đàn thì vẫn bay bổng, đúng căn, nhưng ca lại bầm dập xác xơ, rớt song lang như mưa đá đổ xuống mái tôn.

Cũng bởi bác Mười K có cái tật lớn hơn... cái tuổi, bỏ không được: chữ đàn gút mắc. Nghĩa là khi cất tiếng tơ loan, trường canh vẫn giữ, nhịp vẫn đúng bến đúng bờ, nhưng chữ đờn nó lai rai, nó như chao đảo lẫn lộn bắc nam, ngự oán... Người ca nửa tỉnh nửa say như lưu lạc mê đồ, mù mờ bờ bến. Sự hoảng loạn biến đương sự thành lớp bi hài: lúc dứt câu, non trước song lang, lúc song lang ''cốp'' rồi mà lời ca còn lòng thòng lê thê. Nhiều danh ca thời ấy đã bị cháy tên khi đến Bạc Liêu. Công tâm mà nới, dân Bạc Liêu hào sảng có thừa - công tử Bạc Liêu là một minh chứng - danh ca nào du hành đến đây đều được niềm nở đón chào và được mời tham gia các buổi giao lưu văn nghệ qua tiệc trà, tiệc rượu, đám giỗ, đám cưới. Bác Mười K hiện diện ở nhiều đám và thủ cây đàn nguyệt. Không phải người ta mời bác để sát phạt danh ca hầu dương danh lập oai. Cũng không hẳn bác cố ý chơi xỏ ai. Lần nào có cuộc hội là các tài tử Bạc Liêu-bằng tất cả thâm tình - khuyến cáo bác Mười nên đàn... thoải mái một chút cho êm đẹp mọi bề. Nhưng thế rồi vì người ca quá tuyệt vời, từ trường tác động đến cảm hứng người đàn, ào ạt lan tỏa đến từng ngón tay ấn phím: hò, xứ, xang, xê, cống dồn dập tuôn ra như thác đổ sườn non, nước sa đầu ghềnh. Hứng quá nên quên; mà hễ bác Mười quên thì y thường người ca thọ nạn, tẩu hỏa nhập ma.

Một ngày kia, nữ danh ca Năm Cần Thơ dừng chân xứ Bạc. Cô Năm đang thời lẫy lừng tên tuổi, ăn khách bậc nhất nhờ giọng can gọt lịm và nhất là cách xuống song lang xề cuối câu vọng cổ thứ 5 và song lang xề nhịp 24 câu thứ 6 qua cách đưa hơi lơi, luyến ca từ thong thả ngân nga xuống nhịp rất độc đáo, gây khoái cảm cao chưa ai bắt chước được. Thế nhưng, khi ca độc chiếc do bác Mười K đàn kìm, dù đem hết sở trường, tuyệt kỹ cố thủ thành trì, cô Năm lướt qua được câu 1, đến câu 2, dứt song lang bị chinh... hạt thóc. Tức là cô Năm dứt ca từ sau tiếng song lang tí xíu, chỉ nửa chữ. Những ai hiện diện lúc ấy đều xanh mặt hú hồn. Danh ca cỡ Năm Cần Thơ còn bị chinh; nếu như kẻ khác chắc trễ đôi ba chữ!

Tiếng đồn vang dội lục tỉnh Nam kỳ; từ đó, ít ai dám ca giao lưu với quái thủ Mười K.

Dè đâu, sau đó ít lâu lại có đại ban đến Bạc Liêu biểu diễn. Trong đoàn có nữ danh ca Ba Kim Anh, một cao thủ về kỹ thuật nhịp trường canh vọng cổ, tầm cỡ ''dị nhân'': đàn một nơi, ca một nẻo, nhưng dứt câu chính xác như đúc khuôn. Nhóm tài tử Bạc Liêu thỏa hiệp nhau không tiết lộ danh tánh bác Mười K, e cô bị dị ứng. Riêng cô Ba, chẳng rõ cô có biết ông nhạc sĩ ấy là ai chưa, chỉ thấy và nghe cô ru hồn cử tọa bằng giọng ca sầu thảm rất riêng, bằng kỹ thuật tuyệt vời. Tiếng đàn hôm ấy cũng sắc sảo, điêu luyện, bay bổng, dữ dần như địa chấn, thiên long. Lời ca nào chịu cho đàn lấn lướt, cuồn cuộn dâng cao, dũng mãnh công, thủ, sát phạt lại theo thế ''ăn miếng, trả miếng''. Mọi người ngột ngạt nín thở, tâm thần căng thẳng bất an trước ''cuộc chiến'' của hai đại cao thủ, một ''quái nhân'', một ''dị nhân''. Nếu cô Ba thất thủ thì thân bại danh liệt, mặt mũi nào tồn tại trên sàn diễn, trong đĩa hát? ÁC nghiệt thay! Trong lịch sử đàn ca tài tử, ca làm sao thắng được đàn? Bởi lẽ, đàn là bậc thầy; ''ca hay'' là do đàn dạy. Giờ phút nầy, cung đã giương, tên đã bắn, nào ai có thể kéo người thời gian trở về thời điểm cuộc chiến chưa khai diễn!

Cõi đời, dầu rằng là cõi tạm, nhưng không chuyện lạ nào không thể xảy ra ngoài trưởng tượng của con người. Bởi thế, ngôn ngữ dân gian mới có cặp từ ''kỳ tích''. Và, kỳ tích đã dần dần lộ diện: từng câu rồi từng câu lướt qua mớ hỗn độn hỏa mù trong tâm não mọi người; mỗi câu đều dứt điểm khít rim tiếng song lang không dư chẳng thiếu. Câu chót đã xong mà một khoảng lặng bỗng nhiên bao trùm không gian, như hồn phách mọi người còn lâng lâng phiêu lãng.

Có tiếng ho khẽ, hình như của bác Mười K, thực tại lại trở về trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt cổ vũ một cuộc so tài kỳ thú có một không hai. Mọi người vui vẻ giải lao, ăn uống. Người ngồi cạnh rỉ tai cô Ba: ''Chị biết ông nhạc sĩ này không? ÔNG... Mười K đó!''. Tưởng cô giật mình kinh ngạc vì câu nói kia; dè đã cô cười cười: ''Vậy sao? Nghe đồn ổng đáng sợ lắm. Nhưng mà... có thấy gì đâu''. Thì ra, khi đã luyện đến thượng thừa tuyệt kỹ của nhịp trưởng canh, người thi triển không dễ gì bị rớt nhịp, dù ngón đàn có tai quái đến đâu. Riêng bác Mười K quả là danh cầm quý hiếm đất Bạc Liêu. Nhưng do ngón đàn bẩm sinh quá mắc mỏ mà chẳng đoàn nào dám đặt vấn đề cộng tác. Về sau, nghệ sĩ Năm Nghĩa (thân phụ Bảo Quốc) nghĩ tình đồng hương thu dụng bác tác nghiệp ở đoàn Thanh Minh. Tuy nhiên, giữ song lang trong mỗi lúc lên màn lại do một nhạc sĩ khác, chớ không phải bác Mười K.

Theo: ngocanh

Nguồn tin: Báo sân khấu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn