Trang nhất » Tin Tức » Nghệ thuật cải lương

Bản Vọng cổ được chuyển đổi từ nhịp 16 thành nhịp 32

Thứ hai - 08/06/2015 08:19
Bản Vọng cổ được chuyển đổi từ nhịp 16 thành nhịp 32

Bản Vọng cổ được chuyển đổi từ nhịp 16 thành nhịp 32

(CLVN.VN) - Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Năm Nhỏ), sinh ngày 26 tháng 8 năm Tân Dậu (26.10.1921) tại Bạc Liêu và cũng mất tại đây vào ngày 11 tháng 3 năm Nhâm Tuất (04.4.1982). Ông là người có công chuyển đổi Vọng cổ nhịp 16 thành nhịp 32. Một sự đổi mới cho cổ nhạc Nam bộ.

Xuất thân từ một gia đình khá giả, gốc người Minh Hương. Cha là Trần Tấn Lâm và mẹ là Tống Thị Phước đều là những người cố cựu ở Bạc Liêu. Ông có hai chị, một anh và một em gái. Vợ của ông tên Lê Ngọc Báu, một phụ nữ hiền lành, ở cùng quê với ông. Ông có bảy mặt con, năm trai, hai gái.

Trong cuốn “Tác giả cổ nhạc Bạc Liêu, cuộc đời và sự nghiệp”, trang 110: Từ thuở ấu thơ, ông đã được người nhà gọi một cách thân thương là “Em Nhỏ”, không ngờ cái tên này gắn bó với cuộc đời của ông. Ông vốn là đứa con thứ năm trong gia đình (nếu tính theo người Triều Châu là thứ tư) nên khi lớn lên đa số người xung quanh gọi là Năm Nhỏ và sau đó cái tên “Năm Nhỏ” lại được ông dùng làm nghệ danh.

Thời bấy giờ, phong trào đờn ca tài tử đang lên, nhất là bài Vọng cổ “Văng vẳng tiếng chuông chùa” ra đời. Phong trào này như diều gặp gió, lớn mạnh rất mau chóng. Khách ái mộ cũng nhiều, người tham gia cũng đông sức thu hút của bài Vọng cổ  rất mạnh mẽ. Rồi Mộng Vân lại chuyển đổi nhịp 16 và thu ngắn số câu quả là tuyệt vời. Trần Tấn Hưng ngay những năm còn đi học đã đam mê cổ nhạc, nên ngoài giờ học, ông thường hay dợt đờn để giải khuây, say mê đến đổi phải mua một dàn hát máy và một cây đờn guitar để đờn.
 
Năm 1936, Trần Tấn Hưng chính thức thọ giáo với Nhạc Khị. Nhạc Khị lúc bấy giờ quá già yếu lại thường hay bị bệnh, nên việc dạy đờn cho mấy môn sinh mới đều ủy thác cho Ba Chột, Sáu Lầu… Vì vậy Trần Tấn Hưng làm lễ bái sư với Nhạc Khị, nhưng kể như chính thức mở đầu cuộc đời nghệ thuật từ hai sư huynh này. Ông rất thông minh lại chuyên cần tập luyện, cộng thêm sự hướng dẫn tận tâm của các huynh trưởng, nên việc học tiến bộ rất nhanh, chỉ hai năm đã thông suốt ba nam, sáu bắc và các nhạc bản do Sáu Khị, Sáu Lầu, Ba Chột sáng tác. Ông tâm đắc nhất là bản Vọng cổ và tiền thân của nó là bản “Dạ cổ hoài lang”.
 
Sở trường của ông là chiếc đờn guitar phím lõm (lục huyền cầm) nên rất thích hợp với giọng mùi mẫn của loại nhạc điệu này. Chiếc đàn guitar vốn nguồn gốc từ phương Tây là một nhạc cụ phổ biến trong tân nhạc. Vào năm 1935, được nhạc sĩ Arman Thiều của đài Pháp Á dùng để đờn cổ nhạc. Lúc đầu, cây đờn cũng vẫn để nguyên, một thời gian nhận thấy chữ nhạc thiếu mùi, nên vị nhạc sĩ này đã dũa phím lõm sâu hơn để dễ nhấn chữ đờn. Từ đó nên có đờn guitar phím lõm và bởi có sáu dây nên gọi là lục huyền cầm.

Tuy tiếng đờn rất êm, nhưng lúc này chiếc đờn guitar vẫn chưa được phổ biến trong giới cổ nhạc, nhất là ở các tình miền Tây Nam bộ, chỉ có một số ít người sử dụng.

Nhạc sĩ Trần Tấn Hưng (Năm Nhỏ) chính là người miền Tây đầu tiên sử dụng đờn guitar như là một nhạc cụ chính thống của cổ nhạc ở Bạc Liêu, và ông thành công lớn với chiếc đờn này.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh trong khi viết tác phẩm “Bạc Liêu xưa và nay” đã xác nhận “năm nhỏ thì sở trường lục huyền cầm ai ai cũng biết tiếng”.
 
Lúc đó bài Vọng cổ đang trên đà phát tiển, mỗi câu càng được kéo dài ra, chữ đờn nhiều hơn và êm ái nhẹ nhàng hơn… đã được phổ biến rộng rãi bản Vọng cổ nhịp 16. Dù vậy, nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của những người ái mộ. nắm bắt được nhu cầu này, ông đã cố gắng sáng tạo chữ đờn để biến bản Vọng cổ trở thành nhịp 32.

theo nhận xét của ông: Bản Vọng cổ nhịp 16 có nâng tầm bản Vọng cổ lên một bậc thang mới, nhưng cảm thấy còn thiếu sự phóng khoáng trong lòng câu. Muốn được thoáng hơn, ca từ thư thả hơn, là phải giản thêm, lơi nhịp hơn nữa, chữ đờn nhiều hơn, mượt mà hơn. Ông mày mó sáng tạo một thời gian khá dài và sau cùng bài Vọng cổ nhịp 32 được hình thành. Ước muốn của ông được Thầy với các sư huynh khuyến khích và giúp đỡ, riêng ông Ba Chột luôn chú tâm theo dõi và giải quyết khó khăn trong suốt thời gian sáng tác của người sư đệ nhiều tâm huyết này.
Cuối cùng Trần Tấn Hưng đã được toại nguyện, một thành công đáng kể cho ông.

Trong ngày giỗ Tổ 12 tháng 8 năm Tân Tỵ (1941) ông đã độc tấu bản Vọng cổ nhịp 32 do ông sáng tác với chiếc guitar phím lõm cho Thầy và mọi người cùng nghe. 
 
Nhạc Khị không ngờ người môn sinh nhỏ tuổi nhất, lại cải biên bản Vọng cổ thành nhịp 32 hay như thế. Mọi người rất hân hoan không ngớt chúc mừng thành quả của người “Em Nhỏ”. Dần dần Vọng cổ nhịp 32 đi sâu vào lòng sân khấu cải lương và khán giả mộ điệu lúc bấy giờ vì nhịp 32 thật sự dễ ca hơn, dễ trình diễn hơn trên sân khấu, hầu như các tuồng tích từ hương xa đến
xã hội, không một soạn giả nào bỏ quên bài Vọng cổ.

Nghĩa là tuồng nào cũng có Vọng cổ và Vọng cổ lập đi lập lại nhiều lần trong một vở tuồng.
 
Cuốn “Tinh hoa nghệ thuật Bạc Liêu” của Trần Thu Đông - Trần Phước Thuận, trang 115: Sau khi được phổ biến ở Bạc Liêu, bản Vọng cổ nhịp 32 được truyền đi nhanh chóng ở các nơi. Càng về sau, bản này càng được Nhuận sắc và canh tân, đến nay ở Nam bộ đã có rất nhiều dị bản. Các bản càng mới càng tươi mượt hơn, chữ đờn mùi hơn với nhiều loại dây khác nhau. Tên các loại dây cũng tùy theo tên của mỗi địa phương có sự xuất hiện của mỗi dị bản mà gọi: như dây Bạc Liêu, dây Rạch Giá, dây Long An, dây Sài Gòn, .v.v…  hoặc gọi thẳng nghệ danh của người đã cải biến ra bản đó như dây Văn Vĩ, dây Văn Giỏi, dây Hoàng Thành hoặc các tên khác như dây Ngân Giang (Bảo Chánh), dây Tứ nguyệt, dây Xề .v.v… 
 
Bản Vọng cổ ngày càng có vị trí lớn trong các vở cải lương. Đến nay có thể nói đã chiếm được vị trí độc tôn trên sân khấu cải lương và vô hình chung đã trở thành bàn tiêu biểu nhất của cổ nhạc
Nam bộ.
 
Bản nhạc gốc của nhạc sĩ Trần Tấn Hưng đã được nhà nghiên cứu cổ nhạc Trịnh Thiên Tư ghi lại, và sau đó đã in trong tác phẩm “Ca nhạc cổ điển” (1962) của ông.
 
Nhận sự ra đời của bản Vọng cổ nhịp 32, Trịnh Thiên Tư đã sáng tác 2 bài ca Vọng cổ mang tên “Huyền Trân tủi phận” và “Tìm bạn lạc loài”. Bản chép tay hai bài ca này đã được tác giả gởi tặng nhạc sĩ Trần Tấn Hưng để kỷ niệm. Hai bản Vọng cổ đầu tiên 6 câu, nhịp 32 này cũng được in trong sách “Ca nhạc cổ điển”.
 
Sau này Trần Tấn Hưng đã biên soạn bản “Phước Châu” (1942), “Minh Vương thưởng nguyệt” (1943), “Tùng Lâm dạ lãm” (1943), các bản này đã được sử dụng trong đờn ca tài tử và cải lương. Trần Tấn Hưng thật có công không nhỏ trong việc cải biên Vọng cổ nhịp 16 sang nhịp 32. Một đóng góp đáng biểu dương cho đờn ca tài tử và sự phát triển cải lương Nam bộ.

Theo: ngocanh

Nguồn tin: Trịnh Thiên Tài - Báo sân khấu

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: nhạc sĩ, bạc liêu
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thảo Luận

16/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
01/06/2017
26/05/2017
20/05/2017
05/05/2017
26/04/2017
18/04/2017