Trang nhất » Tin Tức » Hậu trường sân khấu

Soạn giả Tư Chơi, mảnh vụn của một vì sao

Thứ bảy - 06/08/2016 03:22
Soạn giả Tư Chơi, mảnh vụn của một vì sao

Soạn giả Tư Chơi, mảnh vụn của một vì sao

(CLVN.VN) - Giới soạn giả cải lương trong các thập niên 50, 60, khi nghe nhắc đến cụm từ “mảnh vụn của một vì sao” đều hiểu những lời nói đẹp đó ám chỉ về soạn giả lão thành Tư Chơi, một người kiến tạo nhiều sao sân khấu và bản thân của soạn giả Tư Chơi cũng đã từng một thời là một vì sao sáng chói trên bầu trời nghệ thuật sân khấu cải lương trong các thập niên 30, 40, 50 của thế kỷ trước. Nhưng sau đó, ông tự xem mình là một người “nát rượu”, một kẻ phế thải, một “mảnh vụn của một vì sao” khi một ký giả gọi ông là ngôi sao sân khấu.
Soạn giả Tư Chơi tên thật là Huỳnh Thủ Trung, sanh năm 1906, tại xã An Hóa, tỉnh BếnTre. Ông Tư chơi giỏi chữ Nho, biết tiếng Pháp, tiếng Anh và làm thơ hay. Ông cũng là một nhạc sĩ cổ nhạc tài ba, chuyên đờn đoản và đờn violon. Bài vọng cổ Tiếng Nhạn Kêu Sương, nhịp tư của nghệ sĩ Tư Chơi, mở đầu cho bản Dạ Cổ Hoài Lang nhịp đôi của ông Sáu Lầu phát triển dần lên nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, 32, 64…

Ông là soạn giả của nhiều vở tuồng xã hội như Khúc Oan Vô Lượng, Lỡ Tay Trót Đã Nhúng Chàm, Tiếng Nhạn Kêu Sương, Tôi Xin Chừa, Hai Mặt Còn TRơ, Ai Là Bạn Chung Tình, Em Muốn Tự Do…Các tuồng nầy đã làm mưa làm gió trên các sân khấu Huỳnh Kỳ, Trần Đắc từ Nam chí Bắc, với những ngôi sao sân khấu Phùng Há, Năm Châu, Tư Út, Kim Thoa, Kim Hui, Tư Thạch, Từ Anh, Sáu NGọc Sương…mà hiện nay chỉ cần nhắc đến vở Khúc Oan Vô Lượng của ông sáng tác, đoàn hát Huỳnh Kỳ trình diễn trong thập niên 30 – 40, thì các nghệ sĩ cải lương đều nhớ và thán phục vì tuồng đó được xem như một vở tuồng xã hội mẫu mực, cũng như những vở tuồng bậc thầy của các ông Năm Châu, Tư Trang, Năm Nở.

Nghệ sĩ Tư Chơi là người đầu tiên đưa nhạc Tây vào sân khấu cải lương. Thời đó, các bản nhạc tình của Pháp rất thịnh hành ở Saigon và ở các thành phố lớn ở Việt Nam như bài J’ ai deux amours, Marinella, Ma tonkiki ma Tonkinoise do nam ca sĩ Tino Rossi và nữ ca sĩ Joséphine Baker ca:

J’ ai deux amours

 Mon pays est Paris

 Par eux toujours

 Mon coeur est ravi…

Được viết lời Việt trên sân khấu Trần Đắc:

Buồn thay nghề hát

 Trong xứ ta nhiều gương xấu

 Tìm bạn đồng tâm

 Đâu thấy ai? Nào đâu?

Ông Tư Chơi theo phương pháp sáng tác của tân nhạc để sáng tác các bài cổ nhạc vui dùng trong loại hoạt kê hài hước (Opérette) do ông sáng tạo trên sân khấu Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Phước Cương, Kim Thoa. Loạt ca kịch hoạt kê hài hước của soạn giả Tư Chơi đã góp phần xây dựng phong hóa Việt Nam, đả kích các thói hư tật xấu trong xã hội. Loạt tuồng nầy được khán giả hoan nghinh và được giới nghệ sĩ đánh giá là một hình thức ca kịch với âm nhạc mới mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc.

Nghệ sĩ Tư Chơi là người chồng đầu tiên của nữ diễn viên tài sắc Phùng Há. Con gái lớn của ông và cô Phùng Há tên là Lý Bửu Trân (sanh 1926, mất 1959). Cô Lý Bửu Trân không lấy họ Huỳnh mà dùng họ Lý là vì khi cô Bửu Trân theo mẹ về Tàu huyện Hạc San để thăm quê nội thì dượng của cô (chồng của người em gái của cô Phùng Há), nhận Bửu Trân làm con nuôi và cải họ Huỳnh thành họ Lý cho Bửu Trân.

Đây là những dòng nhựt ký của cô Bửu Trân viết về cha của cô là ông Huỳnh Thủ Trung, được ký giả Trần Tấn Quốc cho đăng báo (1960) nhân kỷ niệm một năm sau khi Bửu Trân mất vì bịnh ung thư máu tại nhà thương Grall:

” Cha mình, nghệ sĩ Huỳnh Thủ Trung (nghệ danh Tư Chơi) là người chồng trước nhứt của má (Phùng Há), một nhạc sĩ điêu luyện mà người ta thường nói là tiếng đờn kìm như tiếng chim hót. Cha mình cũng là một tác giả lừng danh. Ngay như lần đầu tiên khi mình ở Hạc San về, mình gặp lại Cha ở sau rạp Nguyễn Văn Hảo thì má của mình đang diễn tuồng của Cha mình sáng tác. Cha mình là một con người tài hoa, Nho học cũng thông, chữ Tây cũng giỏi. Những vở tuồng Cha dịch ra từ tiếng Pháp, tiếng Hoa, cho mãi tới bây giờ người ta vẫn đem ra trình diễn. Cha là nhà cách tân sân khấu. Những hình thức mới lạ của sân khấu Đông, Tây cũng đều được Cha đưa ra thực hiện trên sân khấu cải lương. Nhưng Cha thất chí vì cái gì mình không biết mà trở thành con sâu rượu, sống bê tha, không cần biết tới ai nữa mà cũng chẳng cần ai biết tới mình. Nghĩ tới tình cảnh của Cha, mình buồn quá nhưng không biết làm sao cho Cha mình đừng buồn nữa…” 

Người vợ thứ hai của nghệ sĩ Tư Chơi là nữ nghệ sĩ tài sắc Kim Thoa, đã cùng với anh lập gánh hát Kim Thoa, vang danh trong những thập niên 1940 từ Nam ra Bắc. Con trai thứ của ông Tư Chơi là nhạc sĩ Huỳnh Háo, tay trống số một ở Saigon, nỗi danh trong các vũ trường Acr en Ciel, Mỹ Phụng, Baccara…

***

Năm 1954, khi hòa bình lập lại sau 9 năm chiến tranh Việt – Pháp, dân chúng Saigon được sống yên ổn, hết sợ bị ruồng bố, hết sợ bị liệng lựu đạn nơi các dancing, rạp hát nên các đoàn hát hát ở Saigon được đông đảo khán giả đến xem.

Tết năm 1955, gánh hát Thanh Minh hát tại rạp Nguyễn Văn Hảo. Ông Bầu Nghĩa tổ chức cho múa lân sau rạp hát và lân đi vòng quanh rạp từ đường Galliéni (tức đường Hưng Đạo) vòng ngang vũ trường Tour D’ Ivoire rồi theo đường Bùi Viện vòng ra trước rạp. Tôi theo đoàn múa lân vui với các bạn. Tới gần nhà của ông chủ hãng dĩa Tứ Hải, tôi thấy có một người say rượu, lảo đảo bước đi. Người đó đến gần tôi, vỗ vai tôi hỏi: “Chú em! Chú em có nhớ tôi không?

Tôi vội trả lời: “Em nhớ anh Tư chớ… Anh là bậc thầy của sân khấu, là ngôi sao sân khấu, nghệ sĩ tụi em làm sao mà không nhớ, không biết anh chớ!”

“Thôi! bỏ đi!…Tao hỏi có một câu, mầy nổ một hơi như tụi nó đốt pháo kia kìa… Đi…Đi nhậu với anh Tư mầy…”

Nói xong anh Tư (trong sân khấu chúng tôi quen gọi nhau bằng anh, chị và bằng tên của nhau khi tuổi của chúng tôi không cách xa nhau nhiều quá), anh quàng vai tôi, đi bước thấp bước cao, hơi thở nồng nặc mùi rượu, cặp mắt mở lim dim, khóe mắt lúc nào cũng đo đỏ, ươn ướt như sắp khóc. Người đó trước đây là một ngôi sao sân khấu, một thần tượng của tôi khi tôi còn là một học sinh trung học. Bây giờ thì tôi không biết nên dùng danh từ gì để mà diển tả được cái tình trạng bi thảm của một con người đang trôi tuột xuống hố thẳm mà không ai có cách gì để mà cứu vớt lên được.

– Nguyễn Phương, mình lại ngồi ở cái quán cóc ở ngã tư kia, sát sau cái hãng nước mắm đó mà uống rượu. Ngồi ở cái ngã tư mới nhìn quanh nhìn quẩn được. Chỗ nầy nổi danh Ngã Tư Quốc Tế, mầy có biết tại sao không? Vì… kìa cái tiệm bi da Thanh Tâm, anh Tư chủ tiệm cho mượn cái địa chỉ của tiệm để các nghệ sĩ đi Nam ra Bắc, ai có cần gởi thơ về cho các nghệ sĩ không nhà mà đang theo đoàn hát ở Saigon, họ tới đó mà nhận thơ. Có nhiều đứa gởi thơ mà không tiền mua con cò để gởi, nhà dây thép phạt, ông chủ tiệm vẫn vui lòng trả tiền phạt để cho thơ đừng bị thất lạc. Mầy có thấy ông ta có lòng hào hiệp không?

– Dạ, anh Tư nói đúng…

– Còn nữa, cái tiệm nước Vĩnh Toàn sát sau rạp hát, chổ đó bán chịu cho các nghệ sĩ nghèo, đứa nào đói mà chưa lãnh được lương hay đang thất nghiệp, có thể tới đó ăn hủ tiếu trừ cơm, biên sổ rồi tới cuối tháng trả tiền; tao cũng từng uống rượu thiếu chịu ở đó. Ông chủ là người Tàu, nhưng tử tế nên ai thiếu tiền thì cũng ráng kiếm tiền để trả, không ai quịt tiền của ổng… Ở cái quán Vĩnh Toàn của cái ngã tư quốc tế nầy, các anh ký giả kịch trường như Văn Thà, Đức Hiền, Tình Thiệt, Bạch Tùng Hương, Huỳnh Công Minh, Văn Lương, những người đi săn tin, bắn tin về kịch trường lúc nào cũng túc trực ở đây. Nếu nhà hàng Givrall là cái radio Catinat thì ngã tư quốc Tế nầy là cái radio cải lương. Ai muốn biết tin tức chính trị thì tới Givrall, ai muốn biết tin tức đào kép hát cải lương thì tới cái ngã tư quốc tế nầy…

– Dạ..

– Mầy dạ hoài vậy? Làm một ly cho nóng máy rồi nói chuyện với tao… Đầu đường Bùi Viện là nhà của ông chủ hãng dĩa Tứ Hải, đi thẳng vô hướng Cống Quỳnh, tới nửa đường thì có nhà bà bầu Kim Chưởng, phía tay mặt vô trong là xóm nghệ sĩ nghèo, có hai lò cổ nhạc của Tám Lắm và của nhạc sĩ Út Trong, phía tay mặt của đường Đề Thám hướng vô Phạm Ngũ Lão là có nhà của giáo sư thầy bói Minh Nguyệt…(Anh Tư bỗng cười ruồi) Đường Bùi Viện còn có nhà của cô chủ tiệm may áo dài Hạnh Dung, nó là vợ của thằng Ba Hóa, Ba Hóa lấy Út Bạch Lan, con Hạnh Dung lấy thằng ca sĩ Thành Công, vậy là huề cả làng… Nguyễn Phương, mầy uống rượu chớ có phải là thuốc độc đâu mà mầy á khẩu vậy? Nói chuyện gì với tao đi chớ…

– Em muốn học soạn tuồng, vậy anh nói chuyện của anh đi, em còn học được điều gì đó, chớ cái ngã tư quốc tế nầy thì em cũng là một cư dân ở đây, anh kể làm gì?

– Mầy học viết tuồng! Tao thì đã hết viết rồi, có biết gì đâu mà dạy mầy? Ờ, theo mầy… cuộc đời là gì?

Tôi biết anh Tư Chơi là một nhà thơ lỗi lạc, muốn chọc cho anh nói thì phải đánh cho trúng tim đen của anh. Tôi nói:

 – Tôi là học trò của anh, vậy tôi nói trật thì anh sửa dùm nhe. 

Cuộc đời… cuộc đời là gì?

Cuộc đời chỉ là một trò vui.

Có người thương, người ghét,

Có kẻ khóc người cười.

Có kẻ ước muốn yêu đương.

Có người thèm khát danh phận.

Kẻ trong bóng tối thì đòi ra ánh sáng.

Kẻ giữa ban trưa lại chán nản mặt trời.

Tất cả chúng ta đều như vậy thôi.

Mong muốn! Khát thèm! Đó mới là tội lỗi,

Trời dành riêng để trừng phạt loài người

– Đúng! Nhưng chỉ mới đúng có một phần nhỏ thôi. Vì đó là một cách nhìn chung chung, chớ tao đố mầy dám nói thẳng sự thật. Ở đời, còn có phe nầy với phe kia, mầy nói sự thật, có lợi cho phe nầy thì phe kia nó sẽ khẻ đầu mầy. Ngược lại, nếu mầy nói chung chung, không nói huỵch toẹt ra thì không khác gì mầy xài bạc giả, chỉ hơi giống giống thôi chớ không đúng y như thật. Tao vì không muốn xài bạc giả mà tao chịu nghèo, tao bỏ nghề viết… lách… đó. Viết mà lách thì thà đừng viết…

– Tại vậy mà anh tìm quên trong Men rượu hương tình?

– Anh Tư của mầy chỉ tìm quên trong men rượu chớ không có hương tình. Nói tới cái chữ tình thì anh Tư mầy ớn càng rồi.(Anh Tư Chơi bỗng cao hứng, ngâm lớn:)

Thì chúng ta đây cứ việc say,

Khen chê thương ghét tự lòng ai

Thế sự thăng trầm giai bất biết,

Quanh năm chỉ biết say cùng say.

Say rồi ai cũng chẳng ra ai

Cứ mãi lai rai suốt cả ngày

Tôi thêm: Không nghĩ cách chi làm có lợi,

 Tiền đâu mua rượu, để mà say?

Anh Tư Chơi nắm hai vai tôi lắc lắc, kê mặt sát mặt tôi, lè nhè: ” Tiền? Cũng cái chữ tiền nầy nó làm khổ anh Tư mầy đó! (Anh lại ngâm lớn lên)

Tôi biết ăn đâu với ở đâu?

Cánh chim uể oải giữa trời sầu

Muốn về tổ cũ, không về đặng

Đâu biết ăn đâu với ở đâu?

Tôi nắm tay anh Tư Chơi, mời anh về nhà tôi ở, ở bao lâu cũng được:

Thì cứ ăn đây với ở đây,

Anh, tôi, tình bạn đã lâu ngày

Một khi bạn đã không nhà ở

Thì cứ ăn đây với ở đây.

– Cám ơn! Cám ơn Nguyễn Phương! Mầy sống có nề nếp, khuôn khổ, tao chi cần nhìn cái nề nếp khuôn khổ của gia đình mầy là tao cũng đủ nhức đầu bể óc rồi. Tao có cái triết lý sống của tao.

– Triết lý sống của anh là gì?

– Mầy có biết mấy câu thơ thần của thi hào Lý Bạch không? (anh ngâm lên)

Hoa gian nhất hồ tửu Dưới hoa một hũ rượu ngon

Độc chước vô tương thân Uống rồi lại rót, chỉ còn mình ta

Cử bôi yêu minh nguyệt Nâng chung mời chị Hằng Nga

Đối ảnh thành tam nhân. Cả mình, cả bóng, thành ra ba người.

Tôi nói: “Anh là ngôi sao sân khấu, dù cho có lúc bị mây che mờ, như ngôi sao vẫn là ngôi sao. Tài năng của anh vẫn có thể giành lại cho anh một vị trí xứng đáng trên vòm trời nghệ thuật.”

Anh Tư lắc đầu: “Những nghệ sĩ khác… những ngôi sao kia dù có xa rời sân khấu nhưng vẫn còn hình dáng của những ngôi sao. Còn tôi bây giờ là một khối nát vụn chẳng còn hình thù gì rõ nét của một vì sao rụng. Thôi, dẹp cái chuyện buồn đó đi. Chú có thương tui thì uống với tui đêm nay. Uống… Cho vô đi… Không say không về!”

Đêm đó, anh Tư làm một ly, tôi lỳ một lam, cứ chén thù chén tạc như vậy cho tới khuya. Con Lân Hoàng Giang đã dẹp trống dẹp đồng lố, bọn họ đi ngủ hay đi ăn nhậu ở đâu đó rồi. Dàn đèn rọi chiếu sáng phía sau rạp cũng đã tắt, trả lại cái bóng tối cố hữu của cái hẻm của tiên ông và tiên cô, chỉ còn một già một trẻ say ngất ngưởng bên chiếc bàn thấp lè tè của cái quán cóc bên vệ đường.

Vợ tôi thấy khuya quá mà tôi chưa về nhà, bèn ra rạp kiếm, thấy tôi nằm gục bên bàn rượu với anh Tư Chơi. Cô bán rượu cũng đi về đâu mất rồi, vợ tôi bèn kêu xe cyclo chở tôi về nhà và kêu mấy anh dàn cảnh khiêng anh Tư Chơi vô rạp để cho anh ngủ dưới hầm sân khấu.

Thật là một cái Tết vui quá vui vì đó là cái Tết của năm hòa bình đầu tiên, sau đó không còn ai biết là anh Tư Chơi đi đâu, ăn đâu, ở đâu. Tôi nhiều lần trở về cái ngã tư Quốc Tế đó để dò thăm tin tức của anh. Tôi chỉ được biết là cô Bửu Trân nhiều lần mướn nhà để rước ba cô về ở, nhưng anh từ chối. Nhạc sĩ Huỳnh Háo cũng muốn nuôi cha, nhưng anh cũng không chịu. Cô Bảy Phùng Há đưa tiền nhờ người đến trợ giúp anh và giấu không cho anh biết là cô Bảy đã giúp. Chỉ một hai lần nhận tiền đó, sau anh Tư biết, anh bỏ về quê của anh ở An Hóa. Nghe đồn là lúc ở An Hóa, anh Tư Chơi có một thời gian chung sống với nhạc sĩ Lê Thương…

Đã nửa thế kỷ trôi qua, cái kỷ niệm sâu sắc nhất trong lòng tôi về cái ngã tư quốc tế đó, có lẽ là cái đêm mà cả đám nghệ sĩ chúng tôi vui cái mùa xuân hòa bình đầu tiên ở ngã tư quốc tế và tôi nhớ hoài cái dáng đi lảo đảo, cái giọng nói lè nhè của nghệ sĩ Tư Chơi với những câu thơ ngẫu hứng của anh về rượu và say rượu.

Năm mươi năm sau, cái ngã tư quốc tế trở thành con Phố Tây! Phải chăng là cái duyên tiền định? Người Saigon không dùng cái chữ ” Phố” để gọi một con đường như người Hà nội từng gọi phố hàng đào, phố hàng bạc, phố hàng mã…

Cái tiếng “Phố” đó xăm lăng con đường của Saigon, cái ngã tư quốc tế trở thành cái Phố Tây, tôi nghe mà thấm buồn hơn là buồn mất một ông bạn nghệ sĩ già: Tư Chơi!

Nhớ ngã tư quốc tế và nhớ những kỷ niệm lúc thiếu thời lang thang trên con đường nghệ thuật.

Soạn giả Nguyễn Phương

07/2016

Theo: Ngocanh

Nguồn tin: Thời báo

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn