Trang nhất » Tin Tức » Chân dung nghệ sĩ

Nữ nghệ sĩ Xuân Yến. Hậu duệ tài ba của nghệ sĩ Minh Tơ – Bảy Sự.

Thứ năm - 13/10/2016 00:52
Nữ nghệ sĩ Xuân Yến. Hậu duệ tài ba của nghệ sĩ Minh Tơ – Bảy Sự.

Nữ nghệ sĩ Xuân Yến. Hậu duệ tài ba của nghệ sĩ Minh Tơ – Bảy Sự.

(CLVN.VN) - Khi viết tiểu sử của nghệ sĩ tài danh Thanh Tòng mới mất, tôi liền nhớ nữ nghệ sĩ Xuân Yến, chị của Thanh Tòng, nữ diễn viên một thời nổi danh trong nhóm “Ngũ Nữ Hổ Tướng” của nghệ thuật hát Hồ Quảng ở Saigon trong thập niên 60 của thế kỷ trước
Trong giới nghệ sĩ sân khấu, gia đình Vĩnh Xuân – Bầu Thắng – Minh Tơ có 6 đời nối tiếp nhau theo nghề hát.

Bà cố nội của chị em Thanh Tòng là nữ nghệ sĩ Vĩnh Xuân, ông nội là bầu Hai Thắng, cha là nghệ sĩ Minh Tơ, mẹ là nghệ sĩ Bảy Sự; nghệ sĩ Khánh Hồng là chú của Thanh Tòng, nghệ sĩ Huỳnh Mai (vợ của nghệ sĩ Thành Tôn, mẹ ruột của Bạch Liên, Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc) là cô. Nhạc sĩ Đức Phú là chú, nghệ sĩ Bạch Cúc (vợ của nghệ sĩ Hoàng Nuôi, mẹ của đạo diễn Phụng Hoàng, Sàigòn Audio) là cô. Nữ nghệ sĩ Năm Đồ là dì ruột của Thanh Tòng.

Thanh Tòng có 7 anh chị em: Xuân Yến, Thanh Tòng, Thanh Loan, Minh Tâm, Công Minh, Xuân Thu và Thanh Sơn.

Thế hệ thứ tư trong gia đình Vĩnh Xuân – Bầu Thắng

Xuân Yến, tên thật Nguyễn Thị Xuân Yến, sanh năm 1947 tại Sàigòn. Năm lên 6 tuổi, Xuân Yến cùng với các em Thanh Tòng, Thanh Loan và các bạn Bửu Truyện, Thanh Thế, Bo Bo Hoàng, Trường Sơn, Vũ Đức. . . được cha là nghệ sĩ Minh Tơ trực tiếp dạy nghề hát trong lớp Đồng Ấu Minh Tơ. Vì cả gia đình Minh Tơ cư ngụ trong rạp hát nên ngoài thì giờ đi học chữ ở trường Tôn Thọ Tường (đường Kitchener), hầu hết thì giờ sinh hoạt của Xuân Yến và các bạn đồng học gắn liền với sinh hoạt của đoàn Vĩnh Xuân – Khánh Hồng. Đêm đêm Xuân Yến ngồi bên cánh gà coi hát, học theo các điệu ca, điệu múa của các nghệ sĩ trong đoàn, Xuân Yến thuộc rất nhiều vai, nhiều tuồng, nên khi học hát trong đoàn Đồng Ấu Minh Tơ, Xuân Yến nhắc tuồng, nhắc lớp cho các bạn đồng học. Thanh Tòng và Xuân Yến là hai học viên xuất sắc nhứt, dù lúc ấy cả hai chỉ mới 11, 12 tuổi.

Xuân Yến cũng học các vai võ tướng như Thanh Tòng và các nam học viên khác vì thời kỳ nầy khán giả rất thích các cô đào giả trai, diễn kép võ như cô Phùng Há đóng vai Lữ Bố, cô Kim Chung đóng vai Bá Ấp Khảo… Ngoài ra Xuân Yến và các nữ học viên khác như Thanh Loan, Thanh Thế, Bo Bo Hoàng, các nữ học viên học các điệu múa hát dành riêng cho các vai đào võ như: Phàn Lê Huê, Thần Nữ, Hồ Nguyệt Cô, Lưu Kim Đính, Đào Tam Xuân. Đào văn như Điêu Thuyền, Bàng Quí Phi, Hàn Tố Mai, Nguyệt Kiểu…

Mụ như vai Địch Thiên Kim, vai Lý Thần Phi (trong Bao Công xử án Quách Hòe), Đổng Mẫu (San Hậu), Ngô Quốc Thái (Cầu hôn Giang Tả),…

Các vai tỳ nữ, tỷ tất, phu nhơn vợ viên ngoại, vợ lão tiều…

Xuân Yến diễn giỏi các loại vai nhưng khi diễn chung với những người thân trong gia đình trên một sân khấu, bao giờ Xuân Yến cũng chịu lãnh phần thua thiệt, nhường các vai đào đẹp, kép đẹp cho em. Trong tuồng Xử án Bàng Quí Phi thì nhường cho Thanh Loan đóng vai Bàng Quí Phi, Xuân Yến thủ vai mụ Địch Thiên Kim, trong tuồng Thần Nữ dâng Ngũ Linh Kỳ thì Thanh Loan vai Thần Nữ, Xuân Yến vai mẹ chồng Phàn Lê Huê, trong tuồng Trảm Trịnh Ân thì Xuân Yến vai Đào Tam Xuân, nhường cho Thanh Loan vai Hàn Tố Mai; tuồng Phụng Nghi Đình thì Xuân Yến thủ vai hoặc Vương Tư Đồ, hoặc vai Lý Nhu, nhường vai Lữ Bố cho Thanh Tòng, vai Điêu Thuyền cho Thanh Loan.

Theo lời kể lại của anh Thành Tôn thì Xuân Yến có nhiều lần theo nhóm hát chầu của anh, đi hát các lễ hội Kỳ Yên ở Vũng Tàu, ở Biên Hòa và ở các tỉnh miền Trung. Xuân Yến có biệt tài ứng phó, hát cương, hát các vai đào võ Phàn Lê Huê, Đào Tam Xuân, Thần Nữ, điệu bộ võ thật là oai dũng, khiến cho các đồng nghiệp hát bội Bình Định nể phục.

Năm 1972, khi tình hình chiến sự sôi động (Mùa Hè đỏ lửa, chiến dịch Hạ Lào) các gánh hát ở Sàigòn không hát được, phải lưu diễn đến các tỉnh miền Tây và miền Trung. Nhóm hát bội của anh Thành Tôn bán dàn hát ở tỉnh Qui Nhơn, nhơn dịp Lễ Hội Quang Trung tổ chức tại địa phương. Đêm đó, đoàn hát bội Bình Định thiếu một cô đào đóng vai mụ, vì quen biết với anh Thành Tôn nên ông bầu gánh hát Bình Định cầu cứu, nhờ giúp một vai ”mụ” biết hát cương. Thành Tôn biểu Xuân Yến đi hát giúp. Cả nhóm hát chầu của Thành Tôn đêm đó không có chầu hát nên theo ủng hộ tinh thần của Xuân Yến.

Đến nơi, Xuân Yến làm mặt, hóa trang vai đào mụ, ông biện tuồng đi đâu vắng, không ai nói cho Xuân Yến biết là sẽ đóng vai gì, hát tuồng gì. Có một người trong đoàn kể sơ lược cốt chuyện tuồng đêm hát đó, đại khái thành bị giặc chiếm, bà chạy loạn, được một tướng núi giải cứu, giống như chuyện tuồng Dương Chấn Tử hay tuồng Ngũ Vân Thiệu bị tên. . . Đang kể dang ca, chưa kết thúc thì tới lớp Xuân Yến ra diễn, lúc đầu cương suôn sẻ, ăn khớp với các bạn diễn. Đến lớp bị giặc vây tứ bề, bỗng có kép rừng xuất hiện, kép rừng bất chợt thấy Xuân Yến là đào lạ, tưởng ông bầu bày thêm một lớp hát nào nữa, nên ngơ ngác, nhìn quanh kiếm người diễn viên cũ.

Xuân Yến hỏi:

”Hà xứ nhập lai cứu cứu ngô?

(Người từ nơi nào đến cứu ta ?)

Kép rừng trả lời:

”Ngã tự thâm sơn lai cứu.

(Ta từ núi sâu đến đây cứu bà.)

Xuân Yến nghiêng mình cám ơn, nói:

”Ngưỡng mông đa tạ ân tình!”

(Xin đa tạ tấm ân tình của chàng)

Tới đây kể như xong, nhưng anh kép thấy đào lạ tới hát, tưởng ông biện tuồng bày điều chi mới nên hỏi danh tánh trước khi đưa đi trốn. Chừng đó Xuân Yến mới nhớ là chưa ai kịp nói cô sẽ đóng vai tên gì, tuồng nầy tựa là tuồng gì nên Xuân Yến ngơ ngác một chút, rồi cương đại:

Á Á thôi! Đương khi nguy hiểm, 

Chớ khá diên trì, 

Giặc còn đương lừng lẫy binh truy, 

Tôi khó nỗi tỏ bày danh tính. 

Rồi không để cho kép kia kịp hát hay nói gì thêm, Xuân Yến ca Nam Chạy:

Danh Tính rồi sau bày tỏ (nói:

Bây giờ xin người hãy mau mau)

Thoát khỏi vòng lưới thỏ lồng ưng!

Khi mà đào đã hát Nam Chạy, hát đúng chỗ, đúng tình thế thì kép phải làm theo, đó là phép hát nhà nghề. Xuân Yến chủ động kéo tay anh kép rừng, chạy vô buồng. Phía trong tiếng reo hò tở mở, quân địch kéo tới…

Thành Tôn thường kể lại chuyện nầy cho các diễn viên hậu bối nghe như một trường hợp về sáng kiến và tài ứng phó của diễn viên, và đó cũng là một đánh giá cao khả năng ứng diễn của Xuân Yến.

Nhân chuyến hát chầu ở miền Trung, Xuân Yến được bà Bầu Kim Chưởng thu nhận làm đào nhì, làm ”dàn bao” vì Xuân Yến có khả năng hát được nhiều vai, vào loại tuồng chưởng hay dã sử đều thành công dễ dàng. Trên sân khấu Kim Chưởng, Xuân Yến hát cặp với Hữu Cảnh.

Hữu Cảnh đẹp trai, ca ngọt và diễn cũng nghề nghiệp như Xuân Yến. Hai người yêu nhau, theo đoàn hát lưu diễn miền Trung đến tháng 4 năm 1975.

Trước cuộc đổi đời 1975. 

Nghệ sĩ Hữu Cảnh tên thật là Nguyễn Văn Út sanh năm Kỷ Sửu 1949 tại Bến Tre. Hữu Cảnh được báo chí kịch trường và khán giả biết đến khi anh hát trên sân khấu đoàn Kim Chưởng năm 1966, với vai diễn đầu tiên: Lão Trùm Chiếu trong vở Hắc Long Huyết Hận. Nguyễn Văn Út lấy nghệ danh là Hữu Cảnh vì anh có một giọng ca thật là mùi, có âm sắc như làn hơi của Hữu Phước nên lấy chữ Hữu đứng đầu nghệ danh. Hữu Cảnh lại có thể ca hơi dài, luyến láy như Minh Cảnh, nên lấy tên Cảnh làm tên của mình.

Cô Kim Chưởng trực tiếp chỉ dạy nghề hát cho Hữu Cảnh, nên biết là cô Kim Chưởng xuất thân từ một gia đình nghệ nhân hát bội, cha chồng là ông Bầu Bòn, bầu gánh hát bội mà Kim Chưởng là đào chánh, vậy nên khi truyền nghề cho Hữu Cảnh, cô Kim Chưởng cũng dạy những trình thức căn bản của hát bội, giống như anh Minh Tơ đã dạy cho Xuân Yến, Thanh Tòng. Vì vậy, Hữu Cảnh và Xuân Yến hát cặp nhau trên sân khấu Kim Chưởng thật là xứng đào xứng kép. Điệu bộ múa may, cách ca điệu diễn đều rập ràng ăn khớp nhau, khán giả rất hoan nghinh. Tình yêu của Xuân Yến và Hữu Cảnh cũng bắt nguồn từ đó.

Hai người ở với nhau được ba con: một trai đầu lòng, sau nầy chuyên làm quạt và đạo cụ sân khấu để bán cho các đoàn hát. Người con gái kế, sau làm chuyên viên hóa trang cho hãng phim Trẻ ở Sàigòn. Cô con gái thứ ba, hiện nay mở cửa hàng bán và cho mướn các quần áo cưới.

Tháng 4 năm 1975, tất cả các đoàn hát đều phải ngưng hoạt động. Đoàn Kim Chưởng giải tán, các nghệ sĩ phải đăng ký, chờ xét duyệt coi nghệ sĩ nào được phép tiếp tục hành nghề, nghệ sĩ nào bị cấm hát (như Hùng Cường, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu) hay bị bắt đi tập trung cải tạo như các anh Thành Công, Chín Sớm, soạn giả Mộc Linh, Khả Năng, Duy Khánh, Huyền Trân…

Xuân Yến và Hữu Cảnh về tá túc trong đình Cầu Quan, được cha là ông Minh Tơ cho phép chánh thức kết hôn nhau năm 1976. Cuối năm 1976, anh Minh Tơ được nhà đương cuộc cho phép thành lập đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ. Hữu Cảnh nổi danh khi thủ diễn vai Lý Thường Kiệt trong tuồng Câu Thơ Yên Ngựa. Anh còn có nhiều vai tuồng gọi là ”để đời” vì khó có người hát hay hơn anh như vai Lưu Bị trong vở Lưu Bị Cầu Hôn Giang Tả, vai Trần Thủ Độ trong vở Bão Táp Nguyên Phong, vai Câu Tiễn trong Tây Thi Gái Nước Việt

Xuân Yến thành công trong vai Thượng Dương Hoàng Hậu, vai lão mẫu trong tuồng Đường Về Núi Lam, Thanh Gươm và Nữ Tướng. 

Xuân Yến và Hữu Cảnh mặc dầu hát hay, được khán giả yêu thích nhưng cuộc sống thiệt là chật vật khó khăn. Vì dù anh Minh Tơ, cha ruột của Xuân Yến làm trưởng đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ, nhưng chế độ lương đêm trong đoàn là do Sở Văn Hóa Thông Tin quy định. Kép chánh, đào chánh mỗi đêm hát, mỗi người được 10 đồng bạc. Các đào kép nhì, dàn bao, kép độc, quân chạy hiệu và những người làm dàn cảnh khuân vác thì mỗi người lương đêm là 5 đồng.

Dầu đêm hát vãn rất khuya, độ bốn năm giờ sáng thì hai vợ chồng Hữu Cảnh, Xuân Yến phải thức dậy, đèo nhau trên xe Honda, chạy xuống Tân An, Bến Lức, lấy mối heo lậu, chở về bán nơi chợ Ông Lãnh hay Cầu Muối. Lúc đó thịt heo, gạo, thóc đều khan hiếm, dân phải ăn độn bo bo, khoai lang, khoai mì, thịt thì mua theo tiêu chuẩn mỗi người một tháng được một trăm gramme. Xuân Yến phải quấn và cột thịt heo quanh bụng, giả là có mang gần ngày sanh, chở heo lậu kiểu đó để qua mặt các trạm kiểm soát, kiếm chút đỉnh lời, sinh sống để mà có thể đeo đuổi theo nghề hát.

Xuân Yến và Hữu Cảnh có sáu con, ngoài ba người con đã được kể ở trên đây, sau cuộc thành hôn chánh thức, Xuân Yến và Hữu Cảnh có thêm ba con: Nguyễn Nguyễn Trinh Trinh, sanh năm 1977, Nguyễn Nguyễn Bảo Trân, sanh năm 1979. Nguyễn Nguyễn Bảo Châu, sanh năm 1982.

Năm 1982, vì các nghệ sĩ chịu không chịu nổi chế độ bao cấp, lương theo quy định một cách bất công của chánh phủ nên nhiều nghệ sĩ đi hát chui với các đoàn tỉnh… Đến năm 1986, khi Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói văn nghệ sĩ, Xuân Yến, Hữu Cảnh cũng rời đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ, chạy ra miền Trung hát chầu. Đến Sông Cầu, có khán giả ái mộ Xuân Yến và Hữu Cảnh, bỏ tiền ra lập gánh cho Xuân Yến đứng tên làm bầu. Phần hùn của Xuân Yến và Hữu Cảnh là công lao tổ chức, điều khiển và hàng đêm hát trên sân khấu. Người bỏ tiền ra, chia đôi lợi nhuận với vợ chồng Xuân Yến. Tuy nhiên không thể nào có lời được vì gánh hát phải trực thuộc Sở Văn Hóa địa phương. Gánh hát tư nhơn là gánh hát lậu, phải hối lộ mới có điểm diễn và còn bị khó dễ đủ điều. Xuân Yến, Hữu Cảnh cũng đành nắm níu theo gánh hát, qua ngày đoạn tháng.

Trong khi đó thì các con của Xuân Yến – Hữu Cảnh ở Sàigòn sống trong nghèo đói. Các anh chị lớn của Trinh Trinh đi làm, thu nhập chỉ đủ để tự nuôi mình, giúp cho em được chút đỉnh là may lắm rồi. Trinh Trinh lúc đó mới 9 tuổi, ngoài giờ theo chú Bạch Long học hát, Trinh Trinh đi bán vé số. Nhiều lúc bán không được, nhịn đói mà chịu. Các thầy cô dạy ở trường Tôn Thọ Tường thấy Trinh Trinh vô trường thường không thuộc bài, không làm bài, hỏi ra mới biết tình cảnh của Trinh Trinh khi cha mẹ của cô đều đang ở miền Trung. Cô Hồng, dạy lớp của Trinh Trinh trực tiếp gặp bà Bảy Sự, bà ngoại của Trinh Trinh thì được biết là gia đình vẫn bảo bọc, nuôi ăn ở, chịu tiền sách vở, nhưng có hạn chế vì gánh hát đã bị nhà nước “tập thể hóa”, người trong gia đình Minh Tơ không có quyền thu chi như trước mà chỉ là ăn lương theo quy định của nhà nước. Tài sản của Minh Tơ trở thành “tài sản tập thể” do cán bộ Sở Văn Hóa Thông Tin quản lý.

Tin nầy đến miền Trung, hai vợ chồng Xuân Yến – Hữu Cảnh không thể để cho các con chịu khổ và cũng tự thấy không hy vọng làm ăn khá được vì nếu làm ăn khá như kiểu đoàn Minh Tơ thì nhà nước cho cán bộ xuống, làm một cuộc ” tập thể hóa” thì sẽ trắng tay như ông Minh Tơ. Xuân Yến và Hữu Cảnh trở về Sàigòn, hai anh chị lập nhóm hát chầu, lãnh show hát chầu nhân các lễ cúng Kỳ Yên hoặc hát tăng cường cho các đoàn tỉnh. Hữu Cảnh gánh mọi cực nhọc để các con có phương tiện học hành, làm hết sức để bảo bọc vợ và 6 đứa con nhỏ. Đến năm 1988 thì Hữu Cảnh ngã quỵ, bịnh suy nhược thần kinh, phải rời bỏ sân khấu.

Trinh Trinh, tháo vát, kiên cường, đã gồng gánh gia đình giúp cha mẹ:

Năm 11 tuổi, Trinh Trinh đã đóng vai cô bé Nghi Xuân trong phim Phạm Công Cúc Hoa.

Trinh Trinh trong vai đứa bé dắt em đi ăn xin giữa chợ, đôi mắt đẫm lệ, ráng sức ca đến khàn hơi mà cảnh chợ đông đúc người mua kẻ bán, không ai đoái hoài giúp đỡ. . . Trinh Trinh đã bộc lộ năng khiếu diễn xuất tài tình, đã lấy nước mắt khán giả khi lần đầu tiên cô đến với sàn diễn.

Bắt đầu từ đây, Xuân Yến dẫn Trinh Trinh theo phụ diễn các trích đoạn cải lương ở các tụ điểm văn hóa Đầm Sen, Hồ Kỳ Hòa, Trống Đồng. Trinh Trinh gia nhập vào đoàn Đồng Ấu Bạch Long cùng với các bạn Tú Sương, Vũ Luân, Ngọc Trinh, Linh Tý, Tâm Tâm, Bình Tinh, Mỹ Linh… Đoàn Đồng Ấu Bạch Long diễn các tuồng: Nặng Gánh Giang San, Mạnh Lệ Quân, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài.

Trong những năm 1992, 1993, Thanh Tòng, Bạch Mai, Bạch Long và Hữu Huệ gia nhập đoàn Sông Bé 2, Trinh Trinh, Tú Sương được Thanh Tòng trực tiếp chỉ dạy, tạo điều kiện cho hát. Trinh Trinh và Tú Sương nổi danh qua các tuồng: “Song Kiếm Uyên Ương”, “Long Phụng Châu Báo Quốc”, “Bao Công tra án ngũ thử”

Năm 1994, Trinh Trinh làm đào chánh, hát cặp với kép Chiêu Hùng và Châu Liêm.

Năm 1994, 1995, Trinh Trinh là đào chánh của đoàn cải lương tuồng cổ Huỳnh Long, đoàn Minh Tơ rồi đoàn cải lương Trần Hữu Trang.

Năm 1995-96, Trinh Trinh đoạt huy chương vàng giải Trần Hữu Trang trong vai Lý Thần Phi tuồng Bao Công xử án Quách Hòe.

Trinh Trinh có khả năng diễn đa dạng, hiếm thấy ở các tài năng trẻ, từ vai đào con, kép con, đến các vai mụ, độc, lẳng, hài, các vai võ tướng… vai nào diễn cũng hay, động tác vũ đạo thật là đẹp, nhứt là các vai mụ, lấy nước mắt khán giả. Trong các tuồng: Tam Đã Châu Ngọc Long vai Phụng Lan Hương, Ngũ biến báo phu cừu, vai Cao Loan Anh, tuồng Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, vai cô hầu. Trinh Trinh diễn còn già dặn hơn các diễn viên khác mà tuổi đời và tuổi nghề lớn hơn em thập bội.

Mấy năm sau nầy, sân khấu cải lương xuống dốc, mất dần khán giả, Trinh Trinh nặng gánh gia đình, bươn chải lo mưu sinh, chỉ còn đến được với những show hát vội vã, kịch bản hời hợt, Trinh Trinh mỗi lần nhắc lại cái thời hoàng kim của sân khấu cải lương, đôi mắt cô buồn thăm thẳm, cô tự thấy mình đánh mất mình trong cái chết mỏi mòn của cải lương.

Soạn giả Nguyễn Phương 

10 / 2016

Xuân Yến và Bạch Lê

Xuân Yến và Bạch Lê


Theo: Ngocanh

Nguồn tin: SG Nguyễn Phương, Thời báo

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Trần Tú Minh - 21/12/2016 07:34
Hình minh hoạ không phải là Xuân Yến mà là Thanh Loan
Quang - 18/10/2016 01:25
Hơn 40 năm rồi miền Nam vẫn còn đau và đau vĩnh viễn ...
kim - 17/10/2016 00:21
Miền Nam bị giải phóng. Đau.
Nguyen Thanh Luan - 14/10/2016 09:48
Năm 1975 Miền Nam bị giải phóng, đâu phải chỉ riêng gì giới CL bị đói đâu mà toàn dân miền Nam bị đói thảm thiết. Đói như kể trên thì ăn nhằm gì. Hồi đó Ai còn bám lại Saigon thì còn thở được, các tỉnh mới chết nữa, Trinh Trinh đói như thế là còn may.
Trước đó miền Nam gạo ăn không hết, đứng thứ nhì, thứ ba thế giới về xuất cảng gạo. Nhưng bị giải phóng không biết gạo đi đâu chẳng thấy, dân miền Nam ăn toàn khoai lang khô, khoai mì khô mốc xanh, bị mọt đục khoét mua từ Hợp tác xã mà không có để ăn cho đủ, bữa đói, bữa no. Thời đó, ai còn ở được Saigon thì xem như là còn ở thiên đường so với toàn miền Nam.
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin cũ hơn